Văn Bản Đồng Thuận tại Hội Thảo Quốc Tế “Quy Chế Pháp Lý của Đảo, Đá trong Luật Quốc Tế và Thực Tiễn Biển Đông”

Sáng 17/8, tại thành phố Nha Trang (Khánh Hòa), Trường Đại học Phạm Văn Đồng (Quảng Ngãi) phối hợp với Trường Đại học Nha Trang khai mạc Hội thảo quốc tế “Quy chế pháp lý của đảo, đá trong luật quốc tế và thực tiễn Biển Đông”.[1] Hội thảo được tổ chức sau khi Tòa Trọng tài quốc tế ra phán quyết vụ Philippines kiện Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông.

Tham dự Hội thảo có gần 100 đại biểu bao gồm các học giả quốc tế, học giả người Việt Nam ở nước ngoài, các chuyên gia, học giả đã có nhiều năm nghiên cứu về tranh chấp Biển Đông  thuộc các trường Đại học, viện nghiên cứu của Chính phủ các nước Mỹ, Nga, Úc, Ấn Độ, Đức, Nhật, Bỉ, Phi-líp-pin, Hàn Quốc… Có thể kể tên một số gương mặt quen thuộc như ông Pramono, Tổng Vụ trưởng Chính sách Đối ngoại, Bộ Ngoại giao, chuyên gia Luật Biển của Indonesia; GS. Erik Franckx, Trưởng Khoa Luật quốc tế và Châu Âu, Giám đốc Trung tâm Luật quốc tế, Đại học Tự do Brussel, Bỉ; GS. Carl Thayer, Đại học New South Wales, thuộc Học viện Quốc phòng Australia; GS. Koichi Sato, Đại học J. F. Oberlin, Tokyo, Nhật Bản; TS. Renato Cruz DeCastro, Giáo sư về Quan hệ Quốc tế, Đại học De La Salle, Manila, Philippines; Ông Shekhar Dutt, Nguyên cố vấn Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Ấn Độ; Đại sứ Nguyễn Quý Bính, Thành viên Tòa trọng tài thường trực (PCA); Bà Amy Searight, chuyên viên cao cấp của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và quốc tế (CSIS) của Mỹ…[2]

Chiều 17.8, các học giả quốc tế và Việt Nam tham dự Hội thảo đã thông qua và cho công bố một văn bản đồng thuận liên quan đến diễn biến tình hình gần đây ở Biển Đông. [3]

Dưới đây là nội dung toàn văn bản:

Văn bản đồng thuận

tại Hội thảo quốc tế

Quy chế pháp lý của đảo, đá trong luật quốc tế và thực tiễn Biển Đông

Chúng tôi, các học giả quốc tế và Việt Nam tham dự Hội thảo quốc tế “Quy chế pháp lý của đảo, đá trong luật quốc tế và thực tiễn Biển Đông” do Đại học Phạm Văn Đồng và Đại học Nha Trang đồng tổ chức tại thành phố Nha Trang, Khánh Hòa từ ngày 16-18/8/2016, sau khi đã thảo luận về diễn biến tình hình gần đây ở Biển Đông, dựa trên các tham luận khách quan, khoa học, phát biểu và thảo luận mang tính xây dựng giữa các học giả, đã nhất trí như sau:

  1. Nhấn mạnh sự cần thiết của việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông;
  1. Khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì tự do hàng hải và hàng không phù hợp với luật pháp quốc tế ở Biển Đông đối với không chỉ các quốc gia trong khu vực mà cả cộng đồng quốc tế;
  1. Tái khẳng định nguyên tắc giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (Công ước) và việc áp dụng nguyên tắc này đối với các tranh chấp ở Biển Đông;
  1. Hoan nghênh phán quyết chung thẩm và mang tính ràng buộc được Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước đưa ra ngày 12/7/2016 đã giúp thu hẹp phạm vi các khu vực có tranh chấp và mở ra cơ hội mới cho việc giải quyết các tranh chấp, thúc đẩy hợp tác vì lợi ích bảo vệ môi trường và phát triển bền vững ở Biển Đông;
  1. Nhấn mạnh vai trò trung tâm của ASEAN trong việc xây dựng cấu trúc an ninh khu vực và việc thúc đẩy các tiến trình ngoại giao và pháp lý nhằm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông phù hợp với Điều 33 của Hiến chương Liên hợp quốc, thực thi đầy đủ DOC và sớm tiến tới COC, qua đó mở ra cơ hội mới cho việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông;
  1. Bày tỏ mong muốn tiếp tục tổ chức các hội thảo, tọa đàm quốc tế về chủ đề Biển Đông nhằm mở rộng mạng lưới giữa các viện nghiên cứu và các học giả trên thế giới để thông tin đến dư luận, đưa ra các khuyến nghị chính sách tới các cơ quan chính phủ, các tổ chức quốc tế nhằm góp phần tạo môi trường thuận lợi cho việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác, và một trật tự pháp lý ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế.

Nha Trang, ngày 17/8/2016

Chú thích:

[1] Thông cáo báo chí của Ban tổ chức Hội thảo: http://ntu.edu.vn/vi-vn/h%E1%BB%99ith%E1%BA%A3o/hoangtruongsa.aspx

[2] “Int’l experts urge nations to play by rules in East Vietnam Sea,” Tuoi Tre News ngày 18/8/2016: tuoitrenews.vn/politics/36568/intl-experts-urge-nations-to-play-by-the-rules-in-east-vietnam-sea

[3] “Scholars welcome The Hague ruling for East Vietnam Sea at int’l workshop”, Tuoi Tre News ngày 18/8/2016: tuoitrenews.vn/politics/36569/scholars-welcome-the-hague-ruling-for-east-vietnam-sea-at-intl-workshop

Xem thêm:

Toàn văn Thông cáo báo chí vụ kiện trọng tài Biển Đông: https://daisukybiendong.wordpress.com/2016/07/12/toan-van-thong-cao-bao-chi-vu-kien-trong-tai-bien-dong/

Toàn văn tuyên bố chính thức của các quốc gia về phán quyết của Toà trọng tài ngày 12/7/2016 về vụ kiện trọng tài Biển Đông: https://seasresearch.wordpress.com/category/official-positions-and-legal-instruments/the-south-china-sea-arbitration/

Vụ Kiện Thế Kỷ, Bước Ngoặt Biển Đông

Tác giả: Việt Long

Vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông đã kết thúc bằng phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa trọng tài được thành lập theo Phụ lục VII của Công ước liên hợp quốc về Luật biển.[1] Có thể coi đây là vụ kiện thế kỷ vì nhiều lý do. Lần đầu tiên trong lịch sử của mình, nước Trung Hoa – “trung tâm thế giới” bị một nước nhỏ đơn phương kiện về tranh chấp biển. Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp phức tạp, có nhiều bên tham gia, nhiều nước quan tâm nhất. Lần đầu tiên Tòa phải trả lời và giải thích cụ thể điều 121.3 của UNCLOS và qua đó góp phần phát triển luật biển quốc tế. Nội dung phán quyết không chỉ tác động đến các bên liên quan chính của vụ kiện mà còn ảnh hưởng đến nhiều nước trong và ngoài khu vực, đến tiến trình thực thi và phát triển của luật biển, luật quốc tế, Sau 17 năm đàm phán song phương bất thành, 3 năm tiến hành các thủ tục khởi kiện và xét xử, phán quyết đưa ra được coi là có lợi cho Philippines. Trung Quốc thi hành chính sách ba không: không công nhận thẩm quyền của Tòa, không tham gia, không chấp nhận thi hành phán quyết. Càng gần ngày phán quyết, Trung Quốc càng hoạt động mạnh mẽ, tung ra cả một chiến dịch tuyên truyền xem mình như nạn nhân của một âm mưu pháp lý-chính trị, tác động dư luận quốc tế mạnh mẽ, điều mà một số nhỏ các quốc gia trong hoàn cảnh tương tự (không tham gia Tòa) chưa từng làm. Đây cũng có thể là lý do Tòa trọng tài đã phải kéo dài thời gian công bố phán quyết theo dự định để có được một phán quyết khách quan nhất, giảm thiểu các chỉ trích của các bên.[2] Phán quyết đã đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến chính trị, an ninh, kinh tế của các nước trong khu vực Biển Đông, đến đoàn kết nội bộ ASEAN, cạnh tranh Mỹ-Trung và chính sách đối ngoại của các nước có quyền lợi ở Biển Đông. Phán quyết cũng là phép thử về độ tin cậy của luật quốc tế, sự tôn trọng và thiện chí của các bên trong thi hành. Các tác động không dự tính trước được của phán quyết sẽ còn tác động đến nhiều thế hệ.

Philippines đã đệ trình 15 câu hỏi trước Tòa trên cơ sở giải thích và áp dụng Công ước Luật biển.[3] Philippines đã mời đội ngũ luật sư quốc tế danh tiếng, chuẩn bị hồ sơ 4000 trang trình Tòa trong phiên điều trần 1 và bổ sung 3000 trang trong phiên điều trần thứ 2. Nội dung các câu hỏi trên quy lại thành 3 vấn đề chính: 1) giá trị pháp lý của đường yêu sách lưỡi bò của Trung Quốc trong Biển Đông; 2) quy chế pháp lý của một số thực thể đảo, đá, bãi cạn nửa nổi nửa chìm trong quần đảo Trường Sa; 3) các hành vi của Trung Quốc mà Philippines cho là không phù hợp với Công ước, làm tổn hại các quyền Công ước quy định cho Philippines và môi trường biển.

Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện với các lý do: 1) bản chất thực sự của tranh chấp Trung Quốc – Philippines là vấn đề chủ quyền mà Tòa không có thẩm quyền; các đệ trình của Philippines như xác định quy chế các thực thể liên quan đến vấn đề phân định biển và đã bị loại bỏ bởi bảo lưu của Trung Quốc năm 2006 đối với điều 298 của Công ước; Philippines đã không tuân thủ các cam kết giữa hai nước, Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, Hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam Á, Hiệp ước Đa dạng sinh học… tiến hành giải quyết bằng đàm phán song phương thay vì sự can thiệp của bên thứ ba.[4] Tài liệu lập trường của Trung Quốc đã được Tòa xem xét kỹ lưỡng. Bằng phán quyết về thủ tục và thẩm quyền ngày 29/10/2015 Tòa đã bác các lập luận của Trung Quốc, thừa nhận Tòa có thẩm quyền xem xét 7/15 điểm Philippines đề nghị.[5] Các điểm khác, Tòa sẽ quyết định thẩm quyền của mình khi xem xét các vấn đề nội dung.

Phán quyết nội dung ngày 12/7/2016 dày 501 trang khẳng định Tòa có thẩm quyền xem xét toàn bộ 15 điểm Philippines đưa ra và lần lượt cho câu trả lời từng vấn đề.

Về thầm quyền:

Ngoài các lập luận đã công bố trong phán quyết về thẩm quyền ngày 29/10/2015, Tòa tiếp tục xem xét các ngoại lệ mà bảo lưu năm 2006 của Trung Quốc về điều 298 của Công ước có thể ngăn cản thẩm quyền. Tòa cho rằng ngoại lệ ở Điều 298 chỉ có thể áp dụng nếu Đệ trình của Philippines liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Tuy nhiên, do Đệ trình của Philippines liên quan đến các sự kiện diễn ra trong chính vùng đặc quyền kinh tế của Philippines hoặc ở vùng lãnh hải, nên Điều 298 không cản trở thẩm quyền của Toà. Ngoại lệ thứ hai là các hoạt động quân sự không thuộc thẩm quyền của Tòa. Xuất phát từ các tuyên bố ở cấp cao nhất của Trung Quốc rằng các hoạt động cải tạo và xây dựng đảo nhân tạo ở bảy cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa chỉ mang tính dân sự và Trung Quốc sẽ không quân sự hóa sự hiện diện của mình trên Trường Sa, Tòa đã quyết định không coi các hoạt động trên có tính quân sự khi mà bản thân Trung Quốc đã liên tục khẳng định điều ngược lại. Lập luận này cho phép Tòa loại bỏ ngoại lệ của Điều 298 cản trở thẩm quyền xem xét các hoạt động quân sự. Kết luận này của Tòa có ý nghĩa khẳng định giá trị của các hành vi đơn phương từ các quốc gia, nhất là từ các lãnh đạo cấp cao, sẽ tạo ra nguồn bổ trợ cho luật quốc tế và mang tính rang buộc. Trên cơ sở các phân tích ở cả 2 phán quyết, Tòa tuyên bố mình có đủ thẩm quyền xem xét các nội dung chính của Đệ trình của Philippines.

Về đường chín đoạn:

Do Trung Quốc không giải thích và yêu sách mơ hồ không rõ ràng, Tòa đã sử dụng phương pháp loại trừ để xác định phần chung nhất giữa yêu cầu của Philippines và đòi hỏi của Trung Quốc mà Tòa có thẩm quyền. Tòa khẳng định không xem xét vấn đề chủ quyền các thực thể trong phạm vi đường chín đoạn. Tòa đã xem xét kỹ khái niệm danh nghĩa lịch sử, một khái niệm có thể mang lại chủ quyền cho quốc gia đòi hỏi và quốc gia này có nghĩa vụ chứng minh.[6] Khái niệm này được Công ước 1982 đề cập trong điều 15 liên quan đến phân định lãnh hải. Xem xét danh nghĩa lịch sử bị hạn chế bởi bảo lưu 2006 của Trung Quốc. Song Trung Quốc đã không bao giờ chứng minh bản chất pháp lý và phạm vi của danh nghĩa lịch sử mà mình đòi hỏi.[7] Các yêu sách của Trung Quốc ngoài việc tuyên bố có chủ quyền trên các đảo và các vùng nước kế cận, còn là yêu sách “các quyền chính đáng ở Biển Đông, được tạo thành trong quá trình lịch sử lâu dài”. Sự mơ hồ, không rõ ràng trong các tuyên bố của Trung Quốc không chứng minh được họ có danh nghĩa lịch sử. Tòa phân tích rõ cái mà Trung Quốc, thông qua các hành vi và tuyên bố khác nhau của mình, đòi hỏi là quyền lịch sử đối vói các nguồn tài nguyên trong phạm vi đường chín đoạn. Quyền này không gắn với các khái niệm danh nghĩa lịch sử hay Vịnh lịch sử. Các quyền đánh cá lịch sử truyền thống đã được các nước trong đó có Trung Quốc thảo luận trong quá trình Hội nghị lần thứ III về luật biển và đã không được chấp nhận đưa vào Công ước. Yêu sách của Trung Quốc về quyền lịch sử đối với tài nguyên sinh vật và không sinh vật trong phạm vi đường chin đoạn không phù hợp với Công ước với nghĩa là nó đã vượt quá phạm vi các vùng biển mà Công ước quy định. Các quyền lịch sử này nếu có đã không phù hợp với các định chế vùng biển mới của Công ước khi có hiệu lực và vì thế không tồn tại. Mặt khác trước khi Công ước có hiệu lực và vùng đặc quyền kinh tế trở thành một định chế mang tính tập quán quốc tế thì các vùng biển nằm ngoài lãnh hải 12 hải lý là vùng biển cả. Mọi hoạt động đánh bắt của ngư dân Trung Quốc, ngư dân các nước khác là thực hiện quyền tự do đánh bắt chứ không mang tính lịch sử. Hoạt động hàng hải và đánh cá lịch sử bên ngoài lãnh hải vì vậy không thể tạo nên cơ sở cho việc hình thành quyền lịch sử. Tòa xác định rằng “mặc dù các nhà hàng hải Trung Quốc và ngư dân của họ, cũng như những người như vậy từ các quốc gia khác, đã từng trong lịch sử sử dụng những hòn đảo này ở Biển Nam Trung Hoa, hiện không hề có chứng cứ gì rằng Trung Quốc đã thực thi về mặt lịch sử sự kiểm soát đặc quyền trên toàn vùng nước hay tài nguyên”. Vì vậy, với các câu hỏi số 1 và 2 của Philippines liên quan đến giá trị pháp lý đường chin đoạn, Tòa tuyên “không có cơ sở pháp lý nào để khẳng định nước này (Trung Quốc) có quyền lịch sử đối với các tài nguyên, theo các quyền được Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS), ở các khu vực biển trong phạm vi đường chín đoạn”.[8] Bằng tuyên bố này, Tòa đã bác bỏ 2 trong số 3 khía cạnh mà các học giả Trung Quốc thường biện hộ cho đường chín đoạn; yêu sách quyền lịch sử đánh cá truyền thống và yêu sách vùng biển. Chỉ còn lại khía cạnh yêu sách chủ quyền các thực thể trong phạm vi đường chín đoạn, điều mà Tòa không có thẩm quyền xét xử.

Về quy chế pháp lý của các thực thể trong quần đảo Trường Sa và bãi cạn Scarborough.

Philippines chỉ nêu cụ thể 7 thực thể. Tòa đồng ý với Philippines rằng Gạc Ma (Johnson South Reef), Châu Viên (Cuarteron Reef), Chữ Thập (Fiery Cross) và Scarborough là các thực thể nổi; Xu Bi, Tư Nghĩa (Hughes Reef), Vành Khăn (Mischief Reef) và Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) là các thực thể nửa nổi nửa chìm trong điều kiện tự nhiên nhưng không đồng ý với Philippines về trường hợp của Ga Ven và Ken Nan và kết luận rằng cả hai đều là thực thể nổi. Tòa Trọng tài giải thích Điều 121.3 và kết luận rằng các quyền được hưởng vùng biển của một thực thể phụ thuộc vào (a) năng lực khách quan của thực thể; (b) trong điều kiện tự nhiên, thực thể đó có thể duy trì hoặc (c) một cộng đồng dân cư ổn định hoặc (d) hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài và cũng không thuần túy mang tính chất khai thác.[9] Việc các nhân viên công vụ sống và làm việc trên một số thực thể này, hay việc xây dựng, cải tạo mới không làm thay đổi quy chế pháp lý ban đầu của thực thể. Từ lập luận đó, và áp dụng nguyên tắc tương tự Tòa tuyên bố không có thực thể nào tại Trường Sa có khả năng duy trì đời sống con người ở đó nên không điểm nào có vùng đặc quyền kinh tế và hay vùng thềm lục địa. riêng, kể cả trường hợp đảo lớn nhất Ba Bình. Đây là các quyết định quan trọng không chỉ cho Biển Đông mà còn cho biển Hoa Đông, tranh chấp Điếu ngư đảo, đảo Tokto, quần đảo Riukyu và các vụ tranh chấp đảo đá khác khi áp dụng điều 121.3 của Công ước. Nó khẳng định vai trò của Tòa trong giảm thiểu các tranh chấp, tìm kiếm các giải pháp cho hòa bình, ổn định quốc tế. Tòa Trọng tài cũng kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất. Nó ngăn chặn mọi toan tính trong tương lai việc thiết lập các đường cơ thẳng cho quần đảo Trường Sa như một thực thể thống nhất như Trung Quốc đã làm với Hoàng Sa năm 1996.

Về các hành vi của Trung Quốc:

Sau khi đã xác định các thực thể ở Trường Sa chỉ có 12 hải lý, Tòa dễ dàng kết luận không có sự chồng lấn vùng đặc quyền kinh tế của Philippines và Trung Quốc ở Trường Sa. Vì vậy không cần đến phân định biển cũng có thể nhận thấy các hành vi của ngư dân và lực lượng chấp pháp của Trung Quôc nằm ngoài phạm vi 12 hải lý từ các thực thể được nêu là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế Philippines, “bởi chúng không hề chồng lấn lên bất kỳ khu vực nào có thể thuộc về Trung Quốc”. Hành động cắt mũi, truy đuổi tàu Philippines của lực lượng chấp pháp Trung Quốc trong các vùng biển này là vi phạm các Quy tắc ngăn ngừa va chạm trên biển 1972 và các công ước quốc tế về an toàn hàng hải. Ngư dân Philippines có quyền đánh cá truyền thống ở Scarborough và Tòa cũng có thể nói như vậy về ngư dân Trung Quốc nhưng Trung Quốc đã can thiệp để ngăn chặn ngư dân Philippines tiếp cận vùng biển. Tòa đã yêu cầu chuyên gia phản biện độc lập nghiên cứu và đưa ra kết luận các hoạt động xây đảo nhân tạo, cải tạo bãi gây tổn hại nghiêm trọng tới môi trường biển. Đặc biệt, Tòa cũng chỉ ra rằng ngư dân Trung Quốc đã thực hiện việc khai thác động vật bị đe dọa tuyệt chủng như rùa biển, san hô và trai khổng lồ ở quy mô lớn tại Biển Đông, sử dụng các biện pháp gây hủy hoại nghiêm trọng đối với môi trường rặng san hô. Tòa Trọng tài xác định rằng chính quyền Trung Quốc đã nhận thức được các hành vi này và không thực hiện nghĩa vụ cần thiết theo Công ước để ngăn chặn. Các hành động này của Trung Quốc đã làm trầm trọng thêm xung đột ở Biển Đông. [10]

Phản ứng các bên

Phán quyết đã được đón nhận và hoan nghênh rộng rãi trên toàn thế giới. Phán quyết thúc đẩy tinh thần thượng tôn pháp luật quốc tế, đưa ra các chỉ dẫn quan trọng về giải thích và áp dụng Công ước luật biển 1982, đồng thời yêu cầu các quốc gia liên quan phải làm rõ nội dung và phạm vi tranh chấp phù hợp với luật pháp. Theo Công ước luật biển, phán quyết là chung cuộc, mang tính ràng buộc pháp lý và các bên liên quan phải tuân thủ phán quyết. Tổng thư ký Liên hợp quốc, Mỹ, Nhật Bản, Australia, Ấn Độ..đều kêu gọi các bên tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật biển, kiềm chế, không làm phức tạp tình hình. .[11]

Phán quyết trả lại quyền tự do hàng hải, hàng không cho cả cộng đồng quốc tế trên hầu hết khu vực Biển Đông. Đối với các vùng nước lãnh hải 12 hải lý của các thực thể đảo, tàu thuyền được thực hiện quyền qua lại không gây hại. Tàu bè của Mỹ hay các nước khác có thể đi sát Vành Khăn, vào trong phạm vi 12 hải lý nơi Trung Quốc xây dựng đường băng và căn cứ lớn trên đảo nhân tạo. Phán quyết gián tiếp bác bỏ mọi mưu tính thiết lập một vùng nhận diện phòng không của bất kỳ nước nào trên Biển Đông.

Phán quyết tạo cơ sở để ASEAN dưới sự lãnh đạo của nước Chủ tịch Lào sớm có được lập trường chung về Biển Đông tại Hội nghị thượng đỉnh 21/7 tới, dù còn có ý kiến vụ kiện chỉ liên quan đến Trung Quốc và Philippines. Singapore, điều phối viên quan hệ ASEAN – Trung Quốc, nước quan ngại nhất về tự do hàng hải ở Biển Đông và Indonesia, nước được giải thoát khỏi những khó chịu gần đây khi vùng biển Natuna nằm trong phạm vi đường chín đoạn, sẽ đóng vai trò tích cực chủ động. Malaysia, an tâm về Bãi Tăng Mẫu, sẽ tiếp tục chính sách hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong khi hoan nghênh phán quyết của Tòa. BNG Malaysia ra tuyên bố cho rằng “Trung Quốc và tất cả các bên liên quan có thể tìm ra những cách thức mang tính xây dựng để phát triển các cuộc đối thoại, đàm phán và tham vấn một cách lành mạnh, trong khi duy trì tính thượng tôn pháp luật vì hòa bình, an toàn và an ninh của khu vực.”. Một số nước không có quyền lợi trực tiếp ở Biển Đông cũng nhận thấy phán quyết của Tòa tạo cơ sở cho các bên tiếp tuc đàm phán giải quyết tranh chấp. Philippines, nước khởi kiện, đã chủ động đề nghị nối lại đàm phán với Trung Quốc, kể cả trên vấn đề “gác tranh chấp cùng khai thác”. Trên phương diện này, Philippines đã đi một con đường vòng 13 năm, kể từ thỏa thuận ba bên Philippines-Trung Quốc -Việt Nam hợp tác phát triển chung năm 2003. Tuy nhiên đề nghị lần này dựa trên một cơ sở pháp lý rõ ràng là các thực thể trong Trường Sa không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng. Một tuyên bố kêu gọi các bên liên quan tôn trọng phán quyết của Tòa, ủng hộ duy trì trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế sẽ cải thiện hình ảnh một ASEAN bị chia rẽ trong thời gian qua. Trung Quốc giữ được thể diện khi cùng ASEAN tiếp tục đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông COC. Song một kịch bản xấu, ASEAN không ra được tuyên bố chung vẫn có thể xảy ra khi vẫn có ý kiến trái ngược, phá vỡ cơ chế đồng thuận của khối. Sự đoàn kết ASEAN còn có thể bị ảnh hưởng bởi lập trường của Philippines, nước là Chủ tịch năm tới. Nếu Philippines làm sống lại tranh chấp bang Sabah với Malaysia, Én Ca mà Malaysia đang quản lý có thể nằm trên thềm lục địa yêu sách của Philippines?

Phán quyết của Tòa cũng tác động mạnh đến tiến trình đàm phán trong tương lai nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản lâu dài cho vấn đề chủ quyền ở Biển Đông. Đài Loan, tác giả của đường chín đoạn, dù không giữ được yêu sách 200 hải lý cho Ba Bình, có thể phản đối nhưng cũng sẽ điều chỉnh chính sách không dựa trên đường chín đoạn. Căn cứ vào vị thế và sức mạnh trong khu vực, trong tương lai Đài Loan có thể tuyên bố từ bỏ yêu sách đường chín đoạn để đổi lấy status quo và được công nhận là một bên tranh chấp, đàm phán với các nước khác. Nếu điều này xảy ra, tình hình Biển Đông sẽ còn thay đổi.

Câu hỏi lớn nhất hiện nay là Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào trước phán quyết của Tòa. Phán quyết này đã chặn đứng đà đi lên của Trung Quốc như một siêu cường mới thách thức địa vị của Mỹ cũng như các tham vọng “một hành lang một con đường” và “lợi ích cốt lõi”. Nó đặt Bắc Kinh trước hai lựa chọn: tiếp tục bác bỏ, làm sứt mẻ vị thế và niềm tin từ các nước khác hay điều chỉnh chính sách. Chỉ 4 tiếng sau khi Toà ra phán quyết, trang chủ của Toà trọng tài thường trực (PCA) đã bị hacker Trung Quốc đánh sập. Cùng ngày Tòa ra phán quyết, Chủ tịch Tập Cận Bình tuyên bố chủ quyền lãnh thổ và những lợi ích biển của Trung Quốc tại Biển Đông sẽ không bị ảnh hưởng bởi phán quyết của Tòa trong mọi tình huống. Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng phán quyết là vô giá trị và không ràng buộc. Không nghi ngờ gì, trong thời gian tới Trung Quốc sẽ thực hiện một chiến dịch tuyên truyền khổng lồ nhằm bác bỏ phán quyết, duy trì các yêu sách của mình ở Biển Đông.[12] Trong lịch sử tố tụng quốc tế đã có 5 trường hợp các quốc gia không xuất hiện trước Tòa, không chấp nhận thẩm quyền của Tòa như vụ thử vũ khí hạt nhân New Zealand và Australia kiện Pháp năm 1974, Nicaragua kiện Mỹ năm 1985, hay vụ Hà Lan kiện Nga năm 2013 vì Moscow bắt giữ một tàu của Greenpeace [13]… Nhưng cùng với thời gian và sức ép của cộng đồng quốc tế, các nước này đều hợp tác giải quyết tranh chấp theo phán quyết của Tòa. Cộng đồng quốc tế hy vọng Trung Quốc, nước tham gia tích cực Hội nghị luật biển lần thứ III của Liên hợp quốc, một cường quốc luôn tuyên bố trỗi dậy hòa bình, cũng sẽ không phải là ngoại lệ. Trong tuyên bố của NPN BNG Trung Quốc bao gồm cả khả năng mở cửa đàm phán với Philippines sau phán quyết. Cộng đồng quốc tế cũng cần giúp đỡ Trung Quốc âm thầm điều chỉnh chính sách và hành động thực tế phù hợp với luật quốc tế. Do Tòa chỉ bác đường chín đoạn ở khía cạnh yêu sách vùng biển mà không bình luận về yêu sách chủ quyền, Trung Quốc sẽ tiếp tục khẳng định chủ quyền theo đường chín đoạn, thậm chí duy trì yêu sách 200 hải lý đặc quyền kinh tế từ các thực thể này. Họ sẽ tiếp tục tăng cường sự hiện diện quân sự trên các đảo nhân tạo. Bắc Kinh có thể tính đến việc chiếm đóng thêm một số bãi đá không người. Một kịch bản được nhiều chuyên gia dự đoán là Trung Quốc sẽ triển khai xây đảo nhân tạo ở Scarborough. Mỹ đã cảnh báo Trung Quốc không được vượt lằn ranh đỏ. Song Scarborough không phải là lãnh thổ nằm trong cái ô bảo vệ của Hiệp ước phòng thủ Mỹ- Phi. Một khả năng không cao nhưng vẫn có thể xảy ra khi Bắc Kinh sử dụng vũ lực chiếm một số vị trí thuộc quyền kiểm soát của các bên khác. Bắc kinh có thể cho rằng Tòa đã không đúng khi xem xét quy chế pháp lý từng thực thể mà không xem quần đảo Trường Sa là một thực thể. Thay vì thiết lập một vùng nhận diện phòng không kém hiệu quả và khó kiểm soát, Bắc Kinh có thể tuyên bố đường cơ sở quần đảo Trường Sa như đã làm với quần đảo Hoàng Sa năm 1996. Từ đường cơ sở này Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng các vùng biển tranh chấp, thay cho đường chín đoạn. Trung Quốc không thể dễ dàng từ bỏ mưu tính kiểm soát Biển Đông, làm đối trọng với Mỹ trong cạnh tranh chiến lược. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền còn diễn ra khốc liệt. Đụng độ là có thể nhưng các bên đủ tỉnh táo, kiềm chế để không xảy ra chiến tranh. Ngay sau phán quyết, một cuộc chạy đua vũ trang, củng cố sức mạnh đã được các nước âm thầm phát động. Indonesia đã tăng cường an ninh xung quanh các đảo Natuna. Phản ứng của Trung Quốc cùng sự thiếu vắng cơ chế cưỡng chế thực thi phán quyết của Tòa cho thấy dù quan trọng, giải pháp pháp lý không là giải pháp toàn diện giải quyết xung đột ở Biển Đông. Trước mắt tình hình sẽ căng thẳng.

Phán quyết tác động đến Việt Nam:

Là quốc gia ven biển có chủ quyền trên Biển Đông, Việt Nam thi hành chính sách nhất quán bác bỏ đường chín đoạn phi lý và ủng hộ Tòa Trọng tài có thẩm quyền. Ngày 7/12/2014, BNG Việt Nam đã gửi Tuyên bố lưu ý Tòa lập trường của Việt Nam “nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích có bản chất pháp lý của mình trong BĐ… mà có thể ảnh hưởng trong tiến trình trọng tài”. Việt Nam cũng thể hiện mạnh mẽ ủng hộ “các nước thành viên CULB tìm kiếm giải quyết các tranh chấp của họ liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước… thông qua các thủ tục quy định trong Phần XV của Công ước”. Tuyên bố nêu rõ “Việt Nam không nghi ngờ Tòa có thẩm quyền trong tiến trình vụ kiện” và mong muốn quyết định của Tòa có thể “làm sáng tỏ lập trường pháp lý của các bên trong vụ kiện này và của các bên thứ ba có quan tâm”. Khi thực hiện hồ sơ ranh giới ngoài thềm lục địa cùng Malaysia năm 2009, Việt Nam đã xuất phát từ tiền đề tất cả các thực thể trong quần đảo Trường Sa chỉ có vùng biển không quá 12 hải lý. Quan điểm của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với nội dung của phán quyết ngày 12/7/2016.

Ngày 12/7/2016, Việt Nam đã nhanh chóng tuyên bố hoan nghênh việc ra phán quyết. NPN BNG Việt Nam tuyên bố: “Việt Nam một lần nữa khẳng định lập trường nhất quán về vụ kiện, ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Việt Nam ủng hộ duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương. Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với UNCLOS cũng như tất cả các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam liên quan đến các cấu trúc địa lý thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.[14] Việt Nam cần nghiên cứu kỹ phán quyết để có những chính sách và phản ứng phù hợp

Phán quyết của Tòa tạo điều kiện pháp lý bảo vệ toàn vẹn vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam từ đất liền tách khỏi vùng nước tranh chấp. Hợp đồng công ty Trung Quốc Hai Zi Yang ký với công ty Mỹ Crestone năm 1992 trên bãi Tư Chính thuộc thềm lục địa Việt Nam sẽ không còn giá trị. Cũng như vậy là 9 lô dầu khí mà CNOOC (Công ty dầu khí ngoài khơi Trung Quốc) gọi thầu năm 2012 trên thềm lục địa Việt Nam. Đây là ví dụ đã được Tòa đề cập trong phán quyết ở tr.89.

Việt Nam và Malaysia có thể yêu cầu Ủy ban ranh giới thềm lục địa của Liên hợp quốc xem xét sớm hồ sơ chung về ranh giới ngoài thềm lục địa hai nước đã đệ trình năm 2009. Phillipines sẽ rút lại yêu cầu Ủy ban chưa xem xét hồ sơ của Việt Nam và Malaysia và nước này có thể gia nhập hồ sơ chung.

Các hoạt động cắt cáp, truy đuổi ngư dân Việt Nam thực hiện quyền đánh bắt chính đáng tại các vùng biển của mình phải được chấm dứt. Quyền tiếp cận tài nguyên của ngư dân Việt Nam tại các vùng biển Hoàng Sa, Trường Sa phải được đảm bảo.

Việt Nam cùng các nước có cơ sở đòi hỏi Trung Quốc chấm dứt lệnh cấm đánh bắt cá trái phép trong Biển Đông ban hành từ 1998.

Việt Nam cũng như các nước liên quan có cơ sở làm rõ đòi hỏi vùng biển quần đảo Trường Sa trên cơ sở yêu sách chủ quyền các thực thể.

Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm, sử dụng giải pháp pháp lý để xác định quy chế pháp lý của các thực thể tại quần đảo Hoàng Sa, bác bỏ đường cơ sở quanh quần đảo Hoàng Sa năm 1996, giảm bớt các tranh chấp biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ trên cơ sở duy trì đòi hỏi chủ quyền. Việt Nam cũng có cơ sở để đấu tranh với các vi phạm môi trường biển.

Phán quyết của Tòa cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam thực hiện Nghị quyết khoá IX, kỳ họp thứ 5, ngày 23 tháng 6 năm 1994 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982. Nghị quyết cho phép nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam.

Giải pháp cho Biển Đông là tổng thể chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, an ninh quốc phòng. Công cụ pháp lý là quan trọng, thu hẹp các bất đồng, giúp các bên điều chỉnh chính sách, có các quyết sách đúng, giải quyết thỏa đáng tranh chấp chủ quyền vì hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và toàn thế giới.

Chú thích:

[1] PCA Case No. 2013-19:  The South China Sea Arbitration (The Republic of the Philippines v. The People’s Republic of China), http://www.pca.org

  http://thediplomat.com/wp-content/uploads/2016/07/thediplomat_2016-07-12_09-15-50.pdf

Thông cáo Báo chí và Tóm tắt phán quyết về thẩm quyền và nội dung các đệ trình của Philippines: http://nghiencuubiendong.vn/vu-kien-philippines-trung-quoc/5988-thong-cao-bao-chi-va-tom-tat-phan-quyet-cua-pca-ve-vu-kien-bien-dong

[2] Ngày 23/6/2016, Malaysia gửi Công hàm yêu cầu Tòa xem xét phán quyết không ảnh hưởng đến yêu sách chủ quyền và các quyền lợi biển của nước này.

[3] Vũ Ngọc Diệp, Vì sao Philippines có thể khởi kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông, http://nghiencuubiendong.vn/vu-kien-philippines-trung-quoc/5977-vi-sao-philippines-co-the-khoi-kien-trung-quoc-ve-van-de-bien-dong

[4] http://www.fmprc.gov.cn/mfa_eng/zxxx_662805/t1217147.shtml

[5] Nguyễn Hồng Thao, Vụ kiện ở Biển Đông – khởi đầu cuộc chiến pháp lý, http://nghiencuubiendong.vn/y-kien-va-binh-luan/5113-vu-kien-o-bien-dong-khoi-dau-cuoc-chien-phap-ly

[6] Award on Merits, par. 226

[7] Award on Jurisdiction, par. 160, Award on Merits, par. 180

[8] Award on Merits, par. 239.

[9] Award on Merits, par.500

[10] Robert Beckman, Phán quyết của Tòa Trọng tài trong tranh chấp Biển Đông – sự thay đổi luật chơi trong tranh chấp biển, http://nghiencuubiendong.vn/vu-kien-philippines-trung-quoc/6013-phan-quyet-cua-toa-trong-tranh-chap-bien-dong-su-thay-doi-luat-choi-trong-tranh-chap-bien

[11] Phản ứng của các nước về phán quyết của PCA, Vietnamnet 12.7.2016: http://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/315344/phan-ung-cua-cac-nuoc-ve-phan-quyet-cua-pca.html

[12] Phản ứng của Trung Quốc sau phán quyết vụ kiện Biển Đông, RFI 13.7.2016: http://vi.rfi.fr/chau-a/20160713-phan-ung-cua-trung-quoc-sau-phan-quyet-vu-kien-bien-dong

[13] Arctic Sunrise, (Kingdom of Netherland v. Russian Federation), Provisional Measures, Order of 22 November 2013, ITLOS Report 2013, p.230 at p.243, par. 56

[14] Việt Nam hoan nghênh PCA ra phán quyết về Biển Đông, Vietnamnet 12.7.2016: http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/chinh-tri/315323/viet-nam-hoan-nghenh-phan-quyet-cua-pca.html

Một phiên bản rút gọn của bài viết đã được đăng trên Vietnamnet ngày 14.7.2016 tại http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/315653/vu-kien-the-ky-buoc-ngoat-bien-dong.html

Tư liệu liên quan:

Toàn văn Thông cáo: https://www.documentcloud.org/documents/2990594-PH-CN-20160712-Press-Release-No-11-English.html

Và Phán quyết của Toà trọng tài: https://www.documentcloud.org/documents/2990595-PH-CN-20160712-Award.html

Vùng Nhận Diện Phòng Không trên Biển Đông: Đường 9 Đoạn Phiên Bản 2.0?

Tác giả: Alexander L.Vuving

The National Interest, 25 tháng 7 năm 2016

Biên dịch: Huệ Việt

Kể từ khi Trung Quốc thành lập Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) đầu tiên ở Biển Hoa Đông vào tháng 11 năm 2013, nguy cơ Trung Quốc cũng sẽ thành lập một ADIZ khác tựa như lưỡi kiếm Damocles treo lơ lửng trên Biển Đông. Ngay trong ngày Bộ Quốc phòng Trung Quốc tuyên bố thành lập ADIZ trên biển Hoa Đông, phát ngôn viên của Bộ này cũng công khai tuyên bố: “Trung Quốc sẽ thiết lập các vùng nhận diện phòng không khác vào thời điểm thích hợp sau khi hoàn tất việc chuẩn bị.” Kể từ đó, trong những phát ngôn chính thức của cả Bộ Quốc phòngBộ Ngoại giao Trung Quốc đã không bao giờ loại trừ khả năng Trung Quốc sẽ thiết lập ADIZ ở Biển Đông, lặp đi lặp lại rằng đó là quyền của Trung Quốc như một quốc gia có chủ quyền. Thêm vào đó, những nguồn tin thân cận với quân đội Trung Quốc thingr thoảng lại nói với các nhà báo nước ngoài rằng Trung Quốc đã có kế hoạch và đã sẵn sàng áp đặt ADIZ ở Biển Đông. Vào đầu năm 2016, Đại tá Hải quân Liang Fang, một chiến lược gia nổi tiếng ở Đại học Quốc phòng Quốc gia, công khai kêu gọi quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) tuyên bố thiết lập ADIZ ở Biển Đông. Những phát ngôn công khai này có thể chỉ là để lừa gạt các đối thủ của Trung Quốc, nhưng khả năng Trung Quốc thành lập ADIZ ở Biển Đông là có thật.

Liệu Trung Quốc có sẽ thiết lập ADIZ ở Biển Đông? Nếu có thì khi nào và với kích thước, phạm vi như thế nào? Kể từ tháng 11 năm 2013, những câu hỏi này đã được nêu ra nhiều lần. Và ADIZ trên Biển Đông lại trở thành một vấn đề nóng sau lời phát ngôn của Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc liên quan tới phán quyết vụ kiện trọng tài Biển Đông. Vậy làm thế nào có thể tiên đoán Trung Quốc có lập ADIZ ở Biển Đông hay không? Bài viết này sẽ giúp cho cả những độc giả muốn tự dự báo lẫn những độc giả muốn đánh giá về các dự báo một cách có hiểu biết có thể suy nghĩ một cách có hệ thống về vấn đề này.

fb_img_1460890558431

Máy bay vận tải quân sự của Trung Quốc lần đầu tiên đáp xuống Đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) ở quần đảo Trường Sa ngày 17 tháng 4 năm 2016

Liệu Trung Quốc có sẽ lập ADIZ ở Biển Đông không?

Có thể ví ADIZ Biển Đông như một con chó chưa sủa, nhưng sẽ có thể biến thành một trong ba loại sau:

Loại thứ nhất, đó có thể là một con chó mà đến cuối cùng sẽ sủa. Hầu hết các nhà quan sát đều tin rằng việc Trung Quốc tuyên bố lập ADIZ ở Biển Đông chỉ còn là vấn đề thời gian. Có hai lý do tối quan trọng hỗ trợ niềm tin này. Thứ nhất là những tuyên bố chính thức của Trung Quốc cho thấy rằng nó đã lên kế hoạch thiết lập ADIZ ở Biển Đông và chỉ chờ thời gian chín muồi để thực hiện.

Thứ nhì, các cơ sở thiết bị Trung Quốc đang xây dựng trên các đảo bị tranh chấp ở Biển Đông là quá lớn nếu chỉ phục vụ cho nhu cầu của các cộng đồng trong nước. Một số cơ sở thiết bị này bao gồm 4 đường băng dài 3 km trên các đảo Phú Lâm, Đá Chữ Thập, bãi Xubi và Vành Khăn cùng với một trạm radar tần số cao ở Châu Viên. Trung Quốc cũng đã triển khai trên đảo Phú Lâm hệ thống tên lửa đất đối không với tầm bắn 200 km. Trong con mắt của nhiều chuyên gia, lý do hợp lý nhất cho những cơ sở hạ tầng và hệ thống vũ khí này là để hỗ trợ một ADIZ trong tương lai.

Nhưng ADIZ ở Biển Đông cũng có thể là một con chó sẽ không bao giờ sủa. Ngay cả khi Trung Quốc đã có kế hoạch thiết lập nó, thời gian sẽ không bao giờ là chín muồi để cho Trung Quốc tuyên bố chính thức. Có ít nhất bốn tham số ủng hộ khả năng này.

Thứ nhất, “Trung Quốc có thể đã học từ việc lập ADIZ ở biển Hoa Đông rằng đây là một việc lợi bất cập hại” Như David Welch giải thích, “Tuyên bố thiết lập ADIZ ở Biển Đông sẽ làm suy yếu nghiêm trọng lợi ích của Trung Quốc cũng như an toàn hàng không và lòng tin quốc tế vào óc suy xét của Bắc Kinh. Rất có thể nó sẽ thúc đẩy các quốc gia liên quan khác cũng sẽ thiết lập ADIZ của mình và chồng chéo lên ADIZ của Trung Quốc.” Tuy nhiên, một số chuyên gia khác nghi ngờ Trung Quốc sẽ nhận ra được điều này. Nhìn lại ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông, [học giả Trung Quốc] Zhu Feng còn cho rằng lợi ích mà nó mang lại đã lớn hơn nhiều so với rủi ro.

Thứ nhì, ADIZ có thể phá vỡ tính mơ hồ của các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Sự mơ hồ này đã được cho là có lợi cho Trung Quốc, bởi vậy Trung Quốc sẽ phải suy nghĩ hai lần trước khi áp đặt ADIZ ở Biển Đông.

Thứ ba, một số đối thủ của Trung Quốc đang nắm giữ những lá bài có thể ngăn cản Trung Quốc tuyên bố ADIZ ở Biển Đông. Hữu hiệu nhất trong số lá bài này là Việt Nam có thể tuyên bố lập ADIZ ở Hoàng Sa, và qua đó có thể thiết lập lại một số hình thức quản lý thực tế đối với quần đảo. Trung Quốc cũng có thể sẽ ngần ngại bởi triển vọng Việt Nam tung ra hành động pháp lý chống lại mình, hoặc Việt Nam và Philippines sẽ cho phép quân đội Mỹ truy cập thường xuyên những vị trí chiến lược trên bờ Biển Đông như Vịnh Cam Ranh và Đà Nẵng ở Việt Nam hay vịnh Ulugan, vịnh Subic và tỉnh Zambales ở Philippines.

Thứ tư, Trung Quốc có thể tận dụng ADIZ giả định của mình ở Biển Đông để ngăn cản những thách thức có thể có từ các quốc gia sử dụng biển khác. Nếu ADIZ hoạt động tốt nhất là khi nó còn chưa ra đời, thì nó sẽ được giữ nguyên trạng như vậy.

Cuối cùng, ADIZ ở Biển Đông có thể là một con chó sủa dưới vỏ bọc của một động vật khác. Sự ngụy trang này có thể ở dưới nhiều hình thức khác nhau. Trung Quốc có thể áp đặt một hay nhiều vùng cấm mà không cần phải dưới cái tên ADIZ.

Hoặc nó có thể là một vùng bán nhận diện phòng không (quasi-ADIZ) hay vùng nhận diện phòng không đã mặc nhiên tồn tại trên thực tế dù không được tuyên bố công khai. Theo thẩm phán Philippines Antonio Carpio, khi Trung Quốc sử dụng radio cảnh báo máy bay Philippines đang bay qua vùng trời của quần đảo Trường Sa là “hãy tránh xa khỏi khu vực”, Trung Quốc trên thực tế đã đang thực thi vùng bán nhận diện phòng không. Những cảnh báo tương tự cũng đã được gửi đến các máy bay quân sự và dân sự của các quốc gia khác, trong đó có Hoa Kỳ và Úc. Hiện tại, vùng bán nhận diện phòng không của Trung Quốc dường như bao phủ không quá hai mươi hải lý tính từ bờ biển của một số thể địa lý mà Trung Quốc đang kiểm soát.

Tại sao Trung Quốc cần ADIZ?

Câu hỏi liệu Trung Quốc sẽ thiết lập ADIZ ở Biển Đông chỉ có thể được trả lời thỏa đáng nếu hiểu được mục đích của việc này. Than ôi, ích lợi của ADIZ lại là một trong những chủ đề ít được thảo luận nhất trong những cuộc nghị luận về ADIZ của Trung Quốc. Xu hướng chung chỉ đơn giản cho rằng ADIZ của Trung Quốc có ý nghĩa như tên của nó ngụ ý – một khu vực phòng không hoặc một công cụ quân sự kiểm soát lãnh thổ. Nhưng tiện ích của ADIZ vượt ra ngoài lĩnh vực quân sự và nó không cần phải được thực thi trong thực tế vẫn có thể mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia tuyên bố lập nó. Cũng giống như các công cụ chính sách khác, nó có thể thực hiện các chức năng chính trị, ngoại giao và pháp lý.

Một ADIZ có thể thực hiện một hoặc nhiều hơn trong ít nhất sáu chức năng. Trong số sáu chức năng này, có hai chức năng đòi hỏi hành động thi hành thực tế (đó là chức năng hoạt động như một cơ chế cảnh báo sớm hay chức năng của một khu vực cấm). Ba chức năng khác dựa nhiều hơn vào tuyên bố chính thức (đó là các chức năng đánh dấu chủ quyền, chức năng như một con bài mặc cả (a bargaining chip) và chức năng phát tín hiệu.) Chức năng còn lại, chức năng răn đe, sẽ chỉ hoạt động được khi không tuyên bố công khai.

ADIZ như một cơ chế cảnh báo sớm. Đây là mục đích nguyên thuỷ của ADIZ khi Hoa Kỳ lần đầu tiên tạo ra nó trong thời Chiến tranh Lạnh. Hoa Kỳ thiết lập ADIZ là để giảm nguy cơ bị Liên Xô bất ngờ tấn công trên không. Trung Quốc ngày nay thì quan ngại về các hoạt động gián điệp của Hoa Kỳ hơn là một cuộc tấn công bất ngờ từ Hoa Kỳ hay từ các nước láng giềng trên Biển Đông. Nếu Trung Quốc muốn giảm hoạt động giám sát của Hoa Kỳ dọc theo bờ biển của nó, năng lực thực thi ADIZ sẽ quan trọng hơn là lời tuyên bố chính thức, vì Washington đã công khai lập trường không công nhận cũng như không chấp nhận ADIZ của Trung Quốc.

ADIZ như một khu vực cấm xâm nhập. Việc thiết lập ADIZ có thể cung cấp cơ sở pháp lý để không cho máy bay nước ngoài bay vào những khu vực nhất định. ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông thậm chí còn đòi hỏi máy bay chỉ quá cảnh ở không phận quốc tế và không hướng về lãnh thổ Trung Quốc vẫn phải thông báo với Trung Quốc.

ADIZ với chức năng đánh dấu chủ quyền. Mặc dù ADIZ không phải là một yêu sách lãnh thổ, nó có thể được sử dụng để thực hiện một số hình thức của quyền chủ quyền và quản lý vùng trời trên một vùng lãnh thổ. Sự chấp nhận hay phục tùng của máy bay nước ngoài sau đó có thể được hiểu như là sự công nhận rằng quốc gia sở hữu ADIZ đang thực thi chủ quyền đối với một vùng lãnh thổ. Trong khi ADIZ cần phải được thực thi khi thực hiện chức năng như một cơ chế cảnh báo sớm hay một khu vực cấm xâm nhập, thì nó lại không cần thực thi nhiều trong thực tế để có thể trở thành một công cụ đánh dấu chủ quyền. Một sự thực thi sơ sài đã có thể đủ để được ghi nhận như là một hành động thực thi chủ quyền và không cần phải thực thi thực tế một cách thật sự để khêu ra sự công nhận bởi các quốc gia khác.

ADIZ như một con bài mặc cả. ADIZ có thể làm mạnh thêm vị thế của quốc gia đã tuyên bố lập nó trong ván cờ với các quốc gia khác. Như một ví dụ, ADIZ ở biển Hoa Đông đã củng cố vị trí của Trung Quốc khi đối diện với Nhật Bản trong tranh chấp về quần đảo Senkaku (hay Điếu Ngư). Nó đã cho Trung Quốc một cơ sở pháp lý để cho những máy bay chiến đấu tranh giành vùng trời trên quần đảo với máy bay của Nhật Bản và mở rộng khu vực tranh chấp thực tế không chỉ giới hạn ở những vùng nước lân cận quần đảo mà còn không phận phía trên quần đảo. ADIZ ở Biển Hoa Đông cũng giúp Trung Quốc tạo ra hiện trạng mới trong khu vực. Như Ian Rinehart và Bart Elias lập luận, “Trung Quốc đạt những lợi thế chiến lược bằng cách đẩy yêu sách của mình lên đến tối đa, rồi làm như chịu xuống nước, nhưng thực tế đã gia tăng được thêm lợi ích – na ná như hiệu ứng bánh cóc.”

ADIZ như một thiết bị phát tín hiệu. Một quốc gia có thể tuyên bố ADIZ để phát tín hiệu về một điều gì đó quan trọng. Khán giả của tín hiệu này có thể ở trong nước hoặc quốc tế hoặc cả hai. Công bố lập ADIZ trong sự phản đối của quốc tế có thể là phát tín hiệu thể hiện sự quyết tâm. Nó cũng có thể là tín hiệu của một sự tức giận, và vì vậy một cách gián tiếp, nó phát tín hiệu về khả năng sẽ giáng đòn trừng phạt, nhằm phản ứng lại một sự kiện trước đó đã gây tổn thương cho quốc gia thiết lập nó. Việc thi hành một ADIZ cũng có thể là phát tín hiệu về năng lực của quốc gia đó. Các yếu tố quyết tâm, giận dữ và năng lực thực thi sẽ có thể có tác dụng ngăn cản các quốc gia nước ngoài không làm gì xúc phạm quốc gia đó. Vậy liệu một ADIZ có thể được sử dụng như một tín hiệu trấn an các quốc gia khác về mong muốn hợp tác không? Một nhà quan sát cho rằng Trung Quốc đã cố gắng sử dụng ADIZ ở Biển Hoa Đông như “một công cụ để thu hút sự chú ý chứ không phải là công cụ xâm lược.” Tuy nhiên, phản ứng quốc tế cho thấy chỉ có một kẻ ngốc mới sử dụng ADIZ để phát tín hiệu hợp tác.

ADIZ với chức năng răn đe. Không chỉ có tín hiệu phát ra từ một tuyên bố thiết lập ADIZ, mà chỉ cần cho thấy lập ADIZ là một khả năng nghiêm túc là đã có tác dụng răn đe các quốc gia khác không làm những điều mà quốc gia tuyên bố lập ADIZ không muốn. Trong khi ở trường hợp đầu, chức năng này chỉ hoạt động sau khi quốc gia đã ra tuyên bố thiết lập ADIZ, ở trường hợp sau, chức năng răn đe sẽ ngừng hoạt động ngay khi ADIZ được tuyên bố. Đối với một ADIZ còn trên lý thuyết và chưa được sinh ra, nó chỉ có thể hoạt động như công cụ răn đe khi nó được thiết kế theo những cách mà gây ra nhiều bất lợi cho các quốc gia thuộc đối tượng bị răn đe. ADIZ của Trung Quốc có thể thực hiện chức năng này khi nó có khả năng hoạt động như một vùng cấm, một công cụ đánh dấu chủ quyền và một công cụ tăng cường vị thế. Trên thực tế, Trung Quốc đã phát triển một kịch bản nhất quán về ADIZ ở Biển Đông, rằng việc nó có tuyên bố lập một ADIZ ở Biển Đông hay không phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm mà nó phải đối mặt.

Khi nào Trung Quốc sẽ thiết lập ADIZ ở Biển Đông?

Quyết định lập ADIZ nhiều khả năng sẽ là kết quả của tính toán giữa lợi ích mà nó mang lại và cái giá phải trả. Nếu Trung Quốc đã có kế hoạch công bố ADIZ ở Biển Đông, có lẽ Trung Quốc sẽ làm điều này khi những lợi ích dự kiến vượt qua cái giá dự kiến phải trả. Những lợi ích thu được chủ yếu xuất phát từ các tiện ích của ADIZ trong khi cái giá phải trả sẽ tuỳ thuộc phần lớn vào phản ứng quốc tế. Những tình huống như khủng hoảng Bắc Triều Tiên khiến Mỹ cần Trung Quốc ủng hộ hay phán quyết của tòa án quốc tế về tranh chấp Biển Đông cũng có thể ảnh hưởng đến phân tích chi phí-lợi ích này. Những sự kiện quốc tế này hoặc có thể trói tay các đối thủ của Trung Quốc hoặc cho phép họ quyết đoán hơn ở Biển Đông. Chúng cũng có thể làm thay đổi các giá trị quân sự, chính trị, pháp lý và ngoại giao mà Trung Quốc có thể trích xuất từ một ADIZ Biển Đông.

Trong khi những lợi ích mà ADIZ mang lại được cho là ít nhiều rõ ràng với Trung Quốc, thì cái giá phải trả lại là một màn sương mù dày của những điều còn chưa chắc chắn. Nhìn chung là sẽ khó đoán biết được phản ứng của các quốc gia khác, và Trung Quốc cũng có thể hiểu sai tín hiệu phát ra từ những phản ứng này. Dự đoán Trung Quốc có tuyên bố lập ADIZ ở Biển Đông hay không đối với các nhà quan sát bên ngoài là một công việc chắc chắn thất bại. Tuy nhiên, những điều không chắc chắn liên quan tới công việc tiên đoán này không phải là vô hạn – có một vài yếu tố [cố định] thiết lập các thông số cho quyết định của Bắc Kinh.

Nếu Trung Quốc muốn sử dụng ADIZ ở Biển Đông cho mục đích quân sự (cảnh báo sớm và chống tiếp cận/chống xâm nhập khu vực), thực thi hữu hiệu là yêu cầu then chốt. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng và triển khai các trang thiết bị cần thiết sẽ là những chỉ dấu quan trọng về thời điểm Trung Quốc thiết lập ADIZ. Trung Quốc có thể chính thức tuyên bố ADIZ khi năng lực thực thi nó đã sẵn sàng, nhưng nếu hoàn cảnh không thuận lợi, Trung Quốc có thể áp đặt các hệ thống cảnh báo sớm và những khu vực cấm xâm nhập dưới những tên gọi khác, hoặc nó có thể mặc nhiên thực thi ADIZ trên thực tế (de facto) mà không tuyên bố công khai.

Nếu Trung Quốc sử dụng ADIZ để “đánh dấu chủ quyền” (nghĩa là để cho thế giới biết về chủ quyền của mình trên các vùng lãnh thổ ở Biển Đông và để đạt được sự công nhận hay mặc nhận của quốc tế), hay sử dụng ADIZ như một con bài mặc cả hoặc một công cụ truyền tín hiệu, một tuyên bố chính thức sẽ quan trọng hơn thực thi trên thực tế. Tiềm năng lợi ích mà ADIZ mang lại khi thực hiện những chức năng này là lớn, nhưng những rủi ro gắn liền với việc tuyên bố cũng là đáng kể. Những rủi ro này cao hơn nhiều so với những rủi ro liên quan tới tuyên bố ADIZ của Trung Quốc ở Biển Hoa Đông. Đó là bởi vì tranh chấp Biển Đông liên quan tới nhiều quốc gia hơn, ADIZ ở Biển Đông sẽ khiến cho số quốc gia chống lại Trung Quốc nhiều hơn. Trong khi thế giới bị bất ngờ với việc Trung Quốc tuyên bố ADIZ ở Biển Hoa Đông, điều này sẽ không xảy ra với ADIZ ở Biển Đông. Điều này cũng có nghĩa là các đối thủ của Trung Quốc không chỉ có thời để suy nghĩ về phản ứng tốt nhất, mà còn có thời gian để gây áp lực lên Trung Quốc nhằm ngăn chặn Trung Quốc lập ADIZ ở Biển Đông. Tuy nhiên, những rủi ro này có thể tạm thời giảm đi khi một số đối thủ của Trung Quốc cần Trung Quốc hợp tác ở vấn đề khác được ưu tiên hơn. Ngoài ra, có một số tình huống có thể tạm thời đẩy giá trị của ADIZ ở Biển Đông lên thành một lợi điểm mặc cả hay một tín hiệu về sự quyết tâm. Những khoảnh khắc thế này sẽ tạo thời cơ không thể tốt hơn cho Trung Quốc tuyên bố lập ADIZ ở Biển Đông.

Kích thước và phạm vi của ADIZ

Nếu Trung Quốc áp đặt ADIZ ở Biển Đông, phạm vi tối đa của nó sẽ xấp xỉ đường chín đoạn. Phạm vi lớn hơn sẽ chỉ gây ra thêm nhiều phản đối trong khi không mang lại được thêm nhiều lợi ích. Tỷ lệ chi phí-lợi ích của ADIZ sẽ thay đổi theo phạm vi của nó. Về cơ bản, Trung Quốc có sáu lựa chọn về phạm vi ADIZ ở Biển Đông.

ADIZ nhỏ nhất sẽ bao phủ quần đảo Hoàng Sa. ADIZ này cũng có thể bao gồm từng phần hay toàn bộ đảo Hải Nam. Một ADIZ như vậy sẽ có số quốc gia chống đối ít nhất. Nó có khả năng sẽ bị Việt Nam, quốc gia cũng yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa, và Hoa Kỳ phản đối, nhưng sẽ tránh được phản ứng mạnh mẽ từ hầu hết các quốc gia khác.

Trong một kịch bản thứ nhì, Trung Quốc có thể tuyên bố lập ADIZ dọc bờ biển của mình ở Biển Đông kéo dài bao phủ không chỉ quần đảo Hoàng Sa mà còn cả quần đảo Pratas, cách Hồng Kông 180 hải lý về phía đông nam. Vì quần đảo Pratas hiện đang được quản lý bởi Đài Loan, ADIZ bao phủ quần đảo này sẽ không chỉ làm tăng thêm số quốc gia phản đối mà còn vô tình tạo cơ hội cho Đài Loan bước lên trường quốc tế.

Phiên bản thứ ba của ADIZ ở Biển Đông sẽ trải dài từ bờ biển phía nam của Trung Quốc tới các quần đảo Pratas, Hoàng Sa và bãi cạn Scarborough cách bờ biển Philippines 100 hải lý. Ít nhất sẽ có Hoa Kỳ, Việt Nam, Đài Loan và Philippines phản đối mạnh mẽ phiên bản này.

Trong phiên bản thứ tư, ADIZ chỉ bao phủ quần đảo Hoàng Sa và bãi cạn Scarborough có thể tránh kích động Đài Loan nhưng vẫn sẽ khiến Hoa Kỳ, Việt Nam và Philippines chống lại Bắc Kinh.

Lựa chọn thứ năm là một ADIZ đầy đủ bao phủ gần như tất cả những khu vực Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông, bao gồm cả Pratas, quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Scarborough, quần đảo Trường Sa và các vùng biển giữa và xung quanh những quần đảo này. ADIZ này sẽ có số quốc gia phản đối nhiều nhất nhưng cũng mang lại lợi ích lớn nhất so với các phiên bản khác. Trung Quốc cũng có thể không đặt Pratas vào phiên bản ADIZ đầy đủ, nhưng điều này có thể sẽ không làm giảm đáng kể phản đối từ Đài Loan vì nó vẫn liên quan tới đảo Ba Bình mà Đài Loan đang chiếm giữ ở quần đảo Trường Sa.

Lựa chọn cuối cùng cho Trung Quốc là tuyên bộ lập ADIZ trên quần đảo Trường Sa và có thể là bao phủ cả bãi cạn Scaborough, nhưng không bao gồm quần đảo Hoàng Sa. Vì tất cả các bên trong tranh chấp Biển Đông đều có yêu sách ở Trường Sa, phiên bản ADIZ này cũng sẽ vấp phải phản đối từ nhiều quốc gia nhất. Tuy nhiên, nó có thể làm giảm đáng kể rủi ro khi tránh được khả năng Việt Nam lập ADIZ trên quần đảo Hoàng Sa. Một ADIZ của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa có thể sẽ trở thành công cụ đánh dấu chủ quyền của Việt Nam, tạo cơ hội cho Hà Nội quảng bá các hành động thực thi chủ quyền và quản lý ở khu vực mà Trung Quốc đang phủ nhận là có tranh chấp.

ADIZ trên Biển Đông sẽ là “lằn ranh đỏ” hay là “lằn ranh da cam”?

ADIZ tiềm tàng của Trung Quốc sẽ không phải là ADIZ đầu tiên ở Biển Đông. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Philippines cũng đã thiết lập một ADIZ vào năm 1953, và Nam Việt Nam cũng có ADIZ tồn tại cho tới khi chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975. Nhưng hiện tại ADIZ của Philippines đã không còn hoạt động, và ADIZ của Nam Việt Nam cũng đã không được quân đội Việt Nam ngày nay giữ lại.

Ngược lại, ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông được coi là rất nguy hiểm và không thể chấp nhận. Nhà ngoại giao quốc phòng hàng đầu của Việt Nam là Nguyễn Chí Vịnh đã nhấn mạnh trong một cuộc phỏng vấn tháng Giêng năm 2014 là ADIZ “sẽ còn nguy hiểm hơn cả đường chín đoạn” bởi vì nó sẽ đi kèm với những quy định quá đáng hơn là yêu sách đường chín đoạn. Cho rằng Hà Nội có thể coi việc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Biển Đông là không thể chấp nhận được, Vịnh cũng nói rằng nó sẽ “giết” Việt Nam. Tương tự vậy nhưng thẳng thắn hơn, cựu Ngoại trưởng Philippines Alberto del Rosario, trong một cuộc họp báo chung với người đồng nhiệm Anh vào tháng Giêng năm 2016, cho biết “bất kể việc thiết lập nó [ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông] được thực hiện trên thực tế hay là được tuyên bố chính thức, đối với chúng tôi đây là điều không thể chấp nhận được.” Cũng tại buổi họp báo đó, Ngoại trưởng Anh Philip Hammond nói:” Tự do hàng hải và hàng không là không thể thương lượng. Đó chính là lằn ranh đỏ đối với chúng tôi “Còn lập trường chính thức của Hoa Kỳ là một “ADIZ trên những phần của Biển Đông”sẽ được coi là “khiêu khích và gây mất ổn định.” Ngoại trưởng Mỹ John Kerry đã nhiều lần kêu gọi Trung Quốc không tuyên bố ADIZ ở Biển Đông. Ngoại trưởng Úc Julie Bishop cũng kêu gọi Trung Quốc không thiết lập ADIZ ở Biển Đông. Tháng Sáu năm 2016, Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan Feng Shih-kuan nói với các nhà lập pháp là “Chúng tôi sẽ không công nhận nhận bất kỳ ADIZ nào của Trung Quốc.”

Trong khi có thể chắc chắn là một số quốc gia sẽ thách thức ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông bằng cách này hay cách khác, vẫn chưa rõ liệu ADIZ của Trung Quốc ở Biển Đông có phải là “lằn ranh đỏ” mà vượt qua đó sẽ kích hoạt sự trả đũa dữ dội. Tuy nhiên, phản ứng quốc tế với việc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Biển Đông có lẽ sẽ gay gắt hơn so với lúc Trung Quốc thiết lập ADIZ ở Biển Hoa Đông, giống như một thẻ vàng trong bóng đá vậy. Có vẻ như ADIZ ở Biển Đông có ý nghĩa yếu hơn so với “lằn ranh đỏ”, có thể gọi nó là “lằn ranh da cam”. Theo ý nghĩa này, lằn ranh da cam sẽ tượng trưng cho một đường phân định giữa những gì chấp nhận được và không chấp nhận được, nhưng phản ứng với những gì không thể chấp nhận được có thể có hoặc cũng có thể không đáng sợ nhiều lắm.

Alexander L. Vuving là giáo sư tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye. Bài viết này được chuyển thể từ “Guide to the South China Sea ADIZ,” của tác giả viết cho Dự án Đại Sự ký Biển Đông. Tác giả cảm ơn Cái Ngọc Thiên Hương đã trợ lý nghiên cứu và Vân Phạm về sáng kiến khởi động một dự án lớn hơn về ADIZ của Trung Quốc. Quan điểm thể hiện trong bài là của riêng tác giả.

Bản dịch đã được đăng trên Báo Thanh Niên tại: http://thanhnien.vn/the-gioi/vung-nhan-dien-phong-khong-tren-bien-dong-duong-9-doan-phien-ban-20-729895.html

Bản gốc tiếng Anh: http://nationalinterest.org/feature/adiz-the-south-china-sea-nine-dash-line-20-17121

Toàn Văn Thông Cáo Báo Chí Vụ Kiện Trọng Tài Biển Đông

THÔNG CÁO BÁO CHÍ

Vụ Kiện Trọng Tài Biển Đông

(Cộng hoà Phi-líp-pin v Cộng hoà nhân dân Trung Hoa)

La Hay, 12 tháng 7 năm 2016

Toà Trọng tài ban hành phán quyết

Phán quyết được Toà Trọng tài thành lập theo Phụ lục VII, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (sau đây gọi là “Công ước”) trong vụ kiện giữa Cộng hoà Phi-líp-pin và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (sau đây gọi là ‘Phi-líp-pin’ và ‘Trung Quốc’) hoàn toàn nhất trí thông qua và ban hành.

Vụ kiện trọng tài này liên quan đến vai trò của các quyền lịch sử và nguồn gốc xác định các vùng biển được hưởng tại Biển Đông, quy chế của một số cấu trúc cụ thể và khả năng tạo ra vùng biển của các cấu trúc này, và tính hợp pháp của các hành vi của Trung Quốc mà Phi-líp-pin cho là vi phạm Công ước. Phù hợp các giới hạn của cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc của Công ước, Toà Trọng tài đã nhấn mạnh Toà không phán quyết bất kỳ vấn đề nào liên quan đến chủ quyền đối với các vùng lãnh thổ đất liền và không tiến hành phân định bất kỳ một ranh giới trên biển nào giữa các bên của vụ kiện.

Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố ‘nước này không chấp nhận cũng như không tham gia vào tiến trình trọng tài do Phi-líp-pin đơn phương khởi xướng’. Tuy nhiên, Phụ lục VII quy định rằng “việc vắng mặt của một bên hoặc việc một bên không thực hiện việc biện hộ không tạo nên bất kỳ rào cản nào cho tiến trình tố tụng”. Phụ lục VII cũng quy định rằng trong trường hợp một bên không tham gia vào tiến trình tố tụng, Toà Trọng tài “phải chắc chắn rằng Toà có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp cũng như nội dung kiện phải được chứng minh đầy đủ cả về mặt pháp lý và thực tế”. Theo đó, trong suốt quá trình tố tụng, Toà Trọng tài đã thực hiện các biện pháp cần thiết để kiểm tra tính xác thực của các đệ trình do Phi-líp-pin đưa ra, bao gồm cả việc yêu cầu Phi-líp-pin cung cấp thêm các lập luận, đặt ra các câu hỏi cho Phi-líp-pin trước và trong hai phiên tranh tụng, chỉ định các chuyên gia độc lập có nhiệm vụ báo cáo Toà về các vấn đề kỹ thuật và thu thập các bằng chứng về mặt lịch sử liên quan đến các cấu trúc tại Biển Đông và chuyển các bằng chứng này cho các bên trong vụ kiện để các bên đưa ra bình luận.

Trung Quốc, thông qua Bản Tuyên bố lập trường ban hành tháng 12 năm 2014 cũng như các các tuyên bố chính thức khác, cũng tuyên bố rõ ràng rằng theo quan điểm của nước này, Toà Trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vụ kiện. Điều 288 của Công ước quy định: ‘Trong trường hợp xảy ra tranh chấp về việc liệu một toà hay một cơ quan trọng tài có hay không có thẩm quyền, vấn đề này sẽ do chính toà hay cơ quan trọng tài đó quyết định’. Theo đó, Toà Trọng tài đã tổ chức một phiên tranh tụng về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào tháng 7 năm 2015 và ban hành một Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc vào ngày 29 tháng 10 năm 2015, quyết định về một số vấn đề liên quan đến thẩm quyền và hoãn lại một số vấn đề để tiếp tục xem xét. Toà Trọng tài, sau đó, tiếp tục triệu tập và tổ chức một phiên tranh tụng về các vấn đề nội dung của vụ kiện từ ngày 24 đến 30 tháng 11 năm 2015.

Phán quyết được ban hành hôm nay giải quyết các vấn đề về thẩm quyền mà Toà chưa quyết định trong Phán quyết về thẩm quyền và khả năng thụ lý vụ việc cũng như giải quyết các vấn đề về nội dung thực chất đối với các yêu cầu mà Phi-líp-pin nằm trong thẩm quyền của Toà. Theo quy định tại Điều 296 của Công ước và Điều 11 của Phụ lục VII Phán quyết này có tính ràng buộc pháp lý và có tính chung thẩm.

Quyền lịch sử và Đường 9 đoạn:

Toà Trọng tài nhận thấy có thẩm quyền để xem xét tranh chấp giữa các bên liên quan đến quyền lịch sử và nguồn gốc xác định các vùng biển được hưởng tại Biển Đông. Về mặt nội dung thực chất, Toà kết luận rằng Công ước quy định một cách toàn diện về các quyền đối với các vùng biển, và việc bảo vệ các quyền tồn tại trước Công ước liên quan đến tài nguyên đã được xem xét, nhưng chúng không được thông qua và quy định tại Công ước. Theo đó, Tòa kết luận rằng nếu Trung Quốc đã từng có quyền lịch sử đối với các nguồn tài nguyên trong các vùng biển ở Biển Đông, quyền này đã bị xóa bỏ do chúng không phù hợp với quy chế vùng đặc quyền kinh tế theo quy định của Công ước. Toà cũng nhận thấy dù trong lịch sử, những người đi biển cũng như ngư dân từ Trung Quốc cũng như từ các nước khác đã sử dụng các đảo tại Biển Đông nhưng không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy về mặt lịch sử Trung Quốc đã độc quyền kiểm soát vùng nước này cũng như tài nguyên tại đây. Vì vậy, Toà kết luận không có cơ sở pháp lý để Trung Quốc yêu sách quyền lịch sử đối với tài nguyên tại các vùng biển phía bên trong đường 9 đoạn.

Quy chế của các cấu trúc:

Tiếp theo, Toà Trọng tài xem xét đến quyền hưởng các vùng biển và quy chế của các cấu trúc. Trước tiên, Toà tiến hành đánh giá liệu một số bãi do Trung Quốc yêu sách có nổi ở mức thuỷ triều cao hay không. Các cấu trúc nổi khi thủy triều lên cao sẽ được quyền tạo ra ít nhất vùng lãnh hải 12 hải lý trong khi các cấu trúc chìm khi thuỷ triều lên cao sẽ không có quyền như vậy. Toà nhận thấy rằng các bãi này đã bị làm biến đổi mạnh mẽ do việc bồi đắp, xây dựng và Toà cũng nhắc lại rằng Công ước phân loại các cấu trúc dựa trên điều kiện tự nhiên của chúng và dựa vào các tài liệu lịch sử để đánh giá các cấu trúc. Sau đó, Toà tiến hành đánh giá liệu các có cấu trúc nào trong số các cấu trúc do Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra vùng biển ngoài phạm vi 12 hải lý không. Theo Công ước, các đảo tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa nhưng các “đảo đá không thích hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa”. Toà kết luận rằng quy định này phụ thuộc vào khả năng khách quan của các cấu trúc khi chúng ở tình trạng tự nhiên để có thể duy trì một cộng đồng dân cư ổn định hoặc các hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào các nguồn lực từ bên ngoài hoặc thuần tuý mang tính chất khai thác. Toà cũng nhận thấy rằng sự có mặt của các nhân viên công vụ trên các cấu trúc là phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài và không phản ánh khả năng của các cấu trúc. Toà cũng thấy rằng các bằng chứng lịch sử có ý nghĩa hơn và nhận thấy trong lịch sử, một số nhóm nhỏ các ngư dân của Nhật Bản đã sử dụng các đảo của Trường Sa và đã có một vài hoạt động khai thác phân dơi và đánh cá. Toà kết luận rằng việc việc sử dụng ngắn hạn như vậy không phải là sự định cư của một cộng đồng ổn định và rằng các hoạt động kinh tế trong lịch sử chỉ là hoạt động mang tính khai thác. Theo đó, Toà kết luận rằng không một cấu trúc nào tại Trường Sa có khả năng tạo ra các vùng biển mở rộng. Toà cũng quyết định rằng các đảo Trường Sa không thể cùng nhau tạo ra các vùng biển như một thực thể thống nhất. Trên cơ sở kết luận không một cấu trúc nào mà Trung Quốc yêu sách có khả năng tạo ra vùng đặc quyền kinh tế, Toà nhận thấy Tòa có thể không cần phải phân định ranh giới biển mà vẫn có thể tuyên bố rằng một số vùng biển nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin vì không bị chồng lấn với bất cứ quyền hưởng vùng biển nào mà Trung Quốc có thể được hưởng.

Tính hợp pháp của các hoạt động của Trung Quốc: Tiếp theo, Toà xem xét tới tính hợp pháp của các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông. Nhận thấy rằng các vùng nhất định nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin, Toà cho rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Phi-líp-pin trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này bằng việc (a) can thiệp vào hoạt động đánh cá và thăm dò dầu khí của Phi-líp-pin, (b) xây dựng đảo nhân tạo và (c) không ngăn chặn ngư dân Trung Quốc đánh bắt ở khu vực này. Toà cũng khẳng định rằng ngư dân từ Phi-líp-pin (cũng như ngư dân từ Trung Quốc) đã có quyền đánh cá truyền thống ở Bãi Scarborough và rằng Trung Quốc đã ngăn chặn các quyền này bằng cách hạn chế việc tiếp cận khu vực này. Toà cũng khẳng định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc gây ra một rủi ro va chạm nghiêm trọng một cách bất hợp pháp khi họ đã trực tiếp cản trở các tàu của Phi-líp-pin.

Gây hại cho môi trường biển: Toà xem xét ảnh hưởng với môi trường biển của các hoạt động bồi đắp và xây dựng nhân tạo trên 7 cấu trúc của Quần đảo Trường Sa gần đây của Trung Quốc, và nhận thấy rằng Trung Quốc đã gây hại nghiêm trọng với môi trường của các rặng san hô và vi phạm nghĩa vụ bảo tồn và bảo vệ các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sống của các loài đang suy yếu, bị đe doạ và bị huỷ diệt. Toà cũng cho rằng nhà chức trách Trung Quốc đã nhận thức được việc ngư dân Trung Quốc đã đánh bắt các loài rùa biển, san hô và trai khổng lồ quý hiếm trên diện rộng ở Biển Đông (bằng các biện pháp gây ra tổn hại nghiêm trọng với môi trường rặng san hô) và đã không thực hiện các nghĩa vụ của nước này trong việc ngăn chặn và chấm dứt các hoạt động này.

Làm trầm trọng thêm tranh chấp: Cuối cùng, Toà xem xét liệu các hoạt động của Trung Quốc kể từ khi Toà bắt đầu xem xét vụ việc có làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các bên hay không. Toà nhận thấy rằng Toà thiếu thẩm quyền để xem xét tác động của vụ đối đầu giữa tàu hải quân của Phi-líp-pin và tàu hải quân và chấp pháp của Trung Quốc ở Bãi cạn Second Thomas, cho rằng tranh chấp này liên quan đến các hoạt động quân sự và do vậy, nằm ngoài cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc. Tuy nhiên, Toà nhận thấy rằng việc bồi đắp và xây dựng đảo nhân tạo trên quy mô lớn của Trung Quốc gần đây là không phù hợp với nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước trong quá trình giải quyết tranh chấp, trong chừng mực mà Trung Quốc đã gây ra những tác hại không thể sửa chữa được với môi trường biển, xây dựng một đảo nhân tạo lớn trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin, và phá huỷ các bằng chứng về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc ở Biển Đông mà là một phần của tranh chấp giữa các Bên.

Tóm tắt mở rộng của phán quyết của Toà sẽ được trình bày dưới đây.

Toà được thành lập vào ngày 21 tháng 6 năm 2013, phù hợp với chu trình được quy định trong Phụ lục VII Công ước Luật biển, để đưa ra phán quyết về tranh chấp được đệ trình bởi Phi-líp-pin. Toà bao gồm Thẩm phán người Ghana Thomas A. Mensah, Thẩm phán người Pháp Jean-Pierre Cot, Thẩm phán người Phần Lan Stanislaw Pawlak, Giáo sư người Hà Lan Alfred H.A. Soons và Thẩm phán người Đức Rüdiger Wolfrum. Thẩm phán Thomas A. Mensah là Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Toà Trọng tài thường trực là cơ quan đăng ký trong quá trình xét xử.

Thông tin thêm về vụ việc có thể được tìm thấy ở trang http://www.pcacases.com/web/view/7, bao gồm Phán quyết về Thẩm quyền, các Quy tắc về thủ tục, các Thông cáo báo chí trước đây, biên bản phiên toà và ảnh. Trình tự thủ tục, đệ trình bởi Phi-líp-pin. và các báo của của chuyên gia của Toà sẽ được công bố trong một thời gian thích hợp, cũng như bản dịch không chính thức bằng tiếng Trung của Phán quyết của Toà.

————————

TÓM TẮT PHÁN QUYẾT CỦA TÒA TRỌNG TÀI VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ VÀ VỀ NỘI DUNG CÁC ĐỆ TRÌNH CỦA PHI-LÍP-PIN

1. Thông tin cơ bản về Vụ kiện Trọng tài

Vụ kiện Trọng tài Biển Đông giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc liên quan đến đơn kiện của Phi-líp-pin đề nghị phán quyết về bốn vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc ở Biển Đông. Thứ nhất, Phi-líp-pin muốn Tòa phán quyết về nguồn luật quy định quyền và nghĩa vụ của các bên trên Biển Đông và hiệu lực của Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển (Công ước) đối với yêu sách về quyền lịch sử bên trong cái gọi là “đường chín đoạn” của Trung Quốc. Thứ hai, Phi-líp-pin muốn Tòa phán quyết về liệu một số cấu trúc mà cả Trung Quốc và Phi-líp-pin cùng yêu sách được xác định chính xác là đảo, đảo đá, bãi cạn lúc nổi lúc chìm hay bãi chìm theo Công ước. Quy chế pháp lý của các cấu trúc này theo Công ước quyết định vùng biển mà những cấu trúc đó có thể được hưởng. Thứ ba, Phi-líp-pin muốn Tòa phán quyết liệu một số hành động của Trung Quốc ở Biển Đông có vi phạm Công ước không khi can thiệp vào việc Phi-líp-pin thực thi các quyền chủ quyền và quyền tự do phù hợp với Công ước, cũng như Trung Quốc đã làm tổn hại đến môi trường biển thông qua các hoạt động đánh cá và xây dựng. Cuối cùng, Phi-líp-pin muốn Tòa phán quyết một số hoạt động do Trung Quốc tiến hành, cụ thể là việc cải tạo đất quy mô lớn và xây dựng đảo nhân tạo ở Trường Sa kể từ khi vụ kiện bắt đầu đến nay đã làm mở rộng và làm phức tạp thêm tranh chấp.

Chính phủ Trung Quốc luôn duy trì quan điểm không chấp nhận và không tham gia vào trình tự tố tụng của vụ kiện. Trung Quốc đã nhắc lại quan điểm trong các công hàm ngoại giao, trong “Tài liệu lập trường của Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa về vấn đề thẩm quyền trong Vụ kiện Trọng tài Biển Đông do Cộng hòa Phi-líp-pin khởi xướng” đề ngày 7/12/2014 (“Tài liệu lập trường của Trung Quốc”), trong thư của Đại sứ Trung Quốc tại Vương quốc Hà Lan gửi các thành viên của Tòa Trọng tài và trong rất nhiều tuyên bố công khai. Chính phủ Trung Quốc đã bày tỏ rõ quan điểm rằng các tuyên bố và tài liệu đó “không thể được giải thích là Trung Quốc tham gia vào quá trình tố tụng của vụ kiện dưới bất kỳ hình thức nào”.

Trong Công ước có hai điều khoản xử lý tình huống một bên phản đối thẩm quyền của Tòa Trọng tài và từ chối tham gia vào tiến trình tố tụng:

  • (a) Điều 288 của Công ước quy định: “Trong trường hợp có sự tranh cãi về vấn đề một tòa án hoặc trọng tài có thẩm quyền hay không, thì vấn đề này do tòa án đó quyết định.”
  • (b) Điều 9 Phụ lục VII, Công ước quy định:

“Khi một trong các bên trong vụ tranh chấp không có mặt trước Tòa trọng tài hoặc không trình bày các lý lẽ của mình, thì bên kia có thể yêu cầu Tòa tiếp tục trình tự tố tụng và ra phán quyết. Việc một bên vắng mặt hay việc một bên không trình bày các lý lẽ của mình không cản trở cho trình tự tố tụng. Trước khi ra phán quyết, Tòa Trọng tài cần phải biết chắc chắn rằng không những Tòa có thẩm quyền xét xử vụ tranh chấp mà còn chắc rằng đơn kiện có cơ sở về mặt thực tế và pháp lý.”

Trong suốt quy trình tố tụng, Tòa Trọng tài đã có một số hành động nhằm đảm bảo Tòa có đủ thẩm quyền xét xử và các yêu cầu mà Phi-líp-pin đưa ra là “có cơ sở về mặt thực tế và pháp lý”. Về vấn đề thẩm quyền, Tòa đã quyết định xem các trao đổi không chính thức của Trung Quốc tương đương với ý kiến phản đối thẩm quyền, Tòa đã tổ chức Tranh tụng riêng về Thẩm quyền và Khả năng thụ lý diễn ra từ ngày 7-13/7/2015, đặt câu hỏi cho Phi-líp-pin cả trước và trong phiên tòa về thẩm quyền, bao gồm cả các vấn đề chưa được nêu trong các trao đổi không chính thức của Trung Quốc và Tòa đã ra Phán quyết về Thẩm quyền và Khả năng thụ lý vào ngày 29/10/2015 (“Phán quyết về thẩm quyền”), theo đó quyết định một số đệ trình Tòa có thẩm quyền và các đệ trình khác được hoãn lại để xem xét chung với các vấn đề về nội dung thực chất. Về vấn đề nội dung, Tòa đã tìm cách kiểm tra độ chính xác của các đệ trình của Phi-líp-pin bằng cách yêu cầu nước này nộp thêm văn bản bổ sung, Tòa đã tổ chức phiên tranh tụng về riêng nội dung thực chất diễn ra từ ngày 24-30/11/2015, đặt câu hỏi cho Phi-líp-pin về những nội dung khởi kiện cả trước và trong phiên tranh tụng, chỉ định các chuyên gia độc lập để báo cáo cho Tòa về các vấn đề kỹ thuật, và Toà đã thu thập các ghi chép lịch sử, dữ liệu điều tra thủy văn về Biển Đông trong kho lưu trữ của Văn phòng Thủy văn Anh Quốc, Thư viện Quốc gia Pháp, và Trung tâm lưu trữ Hải ngoại Quốc gia Pháp cũng như cung cấp các tài liệu này, cùng các tài liệu liên quan đến từ các nguồn mở cho các bên trong vụ kiện để các bên đưa ra bình luận.

2. Lập trường của các bên

Phi-líp-pin đã đưa ra 15 đệ trình trong vụ kiện, yêu cầu Tòa xác định:

1) Phạm vi các vùng biển mà Trung Quốc có quyền được hưởng trên Biển Đông, cũng giống như của Phi-líp-pin, không thể vượt ra ngoài những gì được Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (“UNCLOS” hay “Công ước”) cho phép;

2) Các yêu sách của Trung Quốc về các quyền chủ quyền và quyền tài phán, và đối với “các quyền lịch sử”, đối với các vùng biển trên Biển Đông nằm bên trong cái gọi là “đường chín đoạn” là trái với Công ước và không có hiệu lực pháp lý trong chừng mực mà chúng vượt quá các giới hạn địa lý và thực chất của các vùng biển mà Trung Quốc có quyền được hưởng theo UNCLOS;

3) Bãi Scarborough không được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa riêng;

4) Bãi Vành Khăn (Mischief Reef), bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) và đá Xu-bi (Subi Reef) đều là các bãi cạn nửa nổi, nửa chìm và chúng không thể có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, đồng thời không phải là các cấu trúc có thể bị thụ đắc thông qua chiếm đóng hay thông qua cách khác;

5) Bãi Vành Khăn (Mischief Reef) và bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) là một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin;

6) Đá Ga-ven (Gaven Reef) và đá Ken-nan (McKennan Reef) (bao gồm cả đá Huy-gơ (Hughes Reef)) là các bãi cạn nửa nổi nửa chìm, không thể có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa, nhưng ngấn nước thấp nhất của chúng có thể được dùng để lần lượt xác định đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải của đảo Nam Yết (Namyit) và Sinh Tồn (Sin Cowe);

7) Bãi Gạc Ma (Johnson Reef), đá Châu Viên (Cuarteron Reef) và đá Chữ Thập (Fiery Cross Reef) không thể được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa;

8) Trung Quốc đã can thiệp một cách bất hợp pháp tới việc Phi-líp-pin hưởng và thực thi các quyền chủ quyền của mình liên quan đến các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin;

9) Trung Quốc đã hành động một cách bất hợp pháp khi không ngăn cản công dân và tàu thuyền của mình khai thác các nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin;

10) Trung Quốc đã ngăn cản một cách bất hợp pháp việc ngư dân Phi-líp-pin theo đuổi sinh kế bằng việc can thiệp vào các hoạt động đánh bắt cá truyền thống tại bãi Scarborough;

11) Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước trong việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển ở bãi Scarborough và bãi Cỏ Mây;

12) Việc Trung Quốc chiếm đóng và tiến hành các hoạt động xây dựng tại bãi Vành Khăn:

         (a) vi phạm các điều khoản của Công ước liên quan đến các đảo nhân tạo, thiết bị và công trình;

         (b) vi phạm nghĩa vụ của Trung Quốc trong việc bảo vệ và bảo tồn môi trường biển theo Công ước; và

         (c) cấu thành những hành vi bất hợp pháp trong việc cố tình chiếm đoạt theo cách vi phạm Công ước;

13) Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ theo Công ước trong việc sử dụng các tàu chấp pháp một cách nguy hiểm, gây ra nguy cơ nghiêm trọng về va chạm với tàu Phi-líp-pin hoạt động xung quanh bãi Scarborough;

14) Từ khi vụ kiện trọng tài này được bắt đầu vào tháng 1/2013, Trung Quốc đã làm trầm trọng thêm và mở rộng các tranh chấp thông qua các việc sau:

         (a) can thiệp vào các quyền hàng hải của Phi-líp-pin trong vùng nước tại và tiếp giáp bãi Cỏ Mây;

         (b) ngăn cản việc luân chuyển và tiếp tế cho lực lượng của Phi-líp-pin đồn trú tại bãi Cỏ Mây; và

         (c) đe dọa đến sức khỏe và đời sống của lực lượng của Phi-líp-pin đồn trú tại bãi Cỏ Mây;

15) Trung Quốc phải chấm dứt có thêm các yêu sách và hành động phi pháp.

Liên quan đến thẩm quyền của Tòa, Phi-líp-pin đã đề nghị Tòa tuyên bố rằng các yêu sách của Phi-líp-pin là “hoàn toàn nằm trong thẩm quyền và khả năng thụ lý của Tòa”.

Trung Quốc không chấp nhận và không tham gia vào vụ kiện này, nhưng tuyên bố lập trường của mình là “Tòa trọng tài không có thẩm quyền đối với vụ kiện này”. Trong Tài liệu lập trường của mình, Trung Quốc đã đưa ra các lập luận sau:

–  Bản chất của vụ kiện là chủ quyền lãnh thổ đối với một số cấu trúc biển ở Biển Đông, vấn đề này nằm ngoài phạm vi của Công ước và không liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước;

– Trung Quốc và Phi-líp-pin đã thống nhất, thông qua các thỏa thuận song phương và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông, giải quyết các tranh chấp liên quan thông qua thương lượng. Việc Phi-líp-pin đơn phương khởi kiện ra tòa trọng tài này là vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật pháp quốc tế;

–  Ngay cả khi giả định rằng nội dung của vụ kiện liên quan đến giải thích và áp dụng Công ước, các nội dung này là một phần không tách rời của quá trình phân định biển giữa hai quốc gia, như vậy sẽ rơi vào phạm vi của tuyên bố năm 2006 của Trung Quốc phù hợp với Công ước, trong đó loại trừ các tranh chấp về phân định biển khỏi cơ chế trọng tài bắt buộc hay các thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc khác;

Mặc dù Trung Quốc không đưa ra các tuyên bố chính thức tương ứng với các nội dung thực chất của phần lớn các đệ trình của Phi-líp-pin, trong quá trình tố tụng Tòa đã cố gắng xác định lập trường của Trung Quốc trên cơ sở các tuyên bố công khai và thư tín ngoại giao.

  1. Phán quyết của Tòa về Phạm vi thẩm quyền

Tòa đã xem xét vấn đề phạm vi thẩm quyền xét xử các yêu sách của Phi-líp-pin ở cả Phán quyết về Thẩm quyền đối với các vấn đề mà việc xác định thẩm quyền có thể quyết định trước, và trong Phán quyết ngày 12 tháng 7 năm 2016 đối với các vấn đề mà việc xác định thẩm quyền đan xen với các nội dung thực chất của các yêu sách của Phi-líp-pin. Phán quyết ngày 12/7/2016 của Tòa cũng lồng ghép và tái khẳng định các quyết định về thẩm quyền được đưa ra trong Phán quyết về Thẩm quyền.

Để có bức tranh hoàn chỉnh, các quyết định của Tòa về thẩm quyền trong cả hai phán quyết được tóm tắt chung ở đây.

a. Các vấn đề ban đầu

Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa đã xem xét một số những vấn đề ban đầu liên quan đến thẩm quyền của Tòa. Tòa nhận thấy rằng cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều là thành viên Công ước và Công ước không cho phép một Quốc gia tự loại trừ mình khỏi cơ chế giải quyết tranh chấp được quy định trong Công ước. Tòa cho rằng việc Trung Quốc không tham gia vào vụ kiện không tước bỏ thẩm quyền của Tòa và Tòa đã được thành lập đúng với các điều khoản của Phụ lục VII của Công ước, trong đó bao gồm một thủ tục thành lập tòa ngay cả trong trường hợp một bên vắng mặt. Cuối cùng, Tòa đã bác bỏ một lập luận được nêu trong Tài liệu lập trường của Trung Quốc và cho rằng chỉ riêng việc đơn phương khởi kiện không thể được coi là sự lạm dụng đối với Công ước.

b. Sự tồn tại của một Tranh chấp Liên quan đến Giải thích và Áp dụng Công ước

Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa đã xem xét liệu tranh chấp của các Bên có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước hay không, đây là một điều kiện để sử dụng các cơ chế của Công ước.

Tòa đã không công nhận lập luận nêu trong Tài liệu lập trường của Trung Quốc rằng tranh chấp của các Bên thực ra là về chủ quyền lãnh thổ và do đó không phải là một vấn đề liên quan đến Công ước. Tòa chấp nhận rằng tồn tại một tranh chấp giữa các Bên liên quan đến chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông, nhưng Tòa quyết định là các vấn đề được Phi-líp-pin đệ trình để giải quyết bằng trọng tài lại không liên quan đến chủ quyền. Tòa cho rằng không cần thiết phải ngầm quyết định về chủ quyền để có thể xem xét các Đệ trình của Phi-líp-pin và rằng việc xem xét đó sẽ không hỗ trợ cho các yêu sách chủ quyền của bất kỳ Bên nào đối với các đảo ở Biển Đông.

Tòa cũng bác bỏ lập luận nêu trong Tài liệu lập trường của Trung Quốc rằng tranh chấp của các Bên thực tế là về phân định ranh giới biển và do đó bị loại khỏi cơ chế giải quyết tranh chấp theo Điều 298 của Công ước và theo một tuyên bố của Trung Quốc vào ngày 25/8/2006 phù hợp với Điều khoản này. Tòa nhận thấy rằng một tranh chấp về quyền được hưởng các vùng biển của một quốc gia là một vấn đề hoàn toàn khác biệt so với vấn đề phân định các vùng biển ở một khu vực có các vùng biển chồng lấn. Tòa nhận thấy rằng quyền được hưởng các vùng biển, cùng với nhiều vấn đề khác, thường được xem xét trong việc phân định ranh giới, nhưng cũng có thể phát sinh trong những bối cảnh khác. Tòa quyết định là từ đó không thể kết luận rằng một tranh chấp đối với từng vấn đề trên có thể coi là tranh chấp về phân định biển.

Cuối cùng, Tòa quyết định rằng các Đệ trình của Phi-líp-pin đều phản ánh một tranh chấp liên quan đến Công ước. Với quyết định đó, Tòa đã nhấn mạnh rằng (a) tranh chấp liên quan đến mối liên hệ giữa Công ước và các quyền khác (bao gồm bất kỳ “quyền lịch sử” nào của Trung Quốc) là một tranh chấp liên quan đến Công ước và (b) do Trung Quốc không nêu rõ quan điểm của mình, sự tồn tại của một tranh chấp có thể được hàm ý từ hành vi của một Quốc gia hoặc từ sự im lặng, và đây là một vấn đề cần phải được xem xét một cách khách quan.

c. Sự tham gia của Bên thứ ba không thể vắng mặt

Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa đã xem xét việc các Quốc gia khác  cũng có yêu sách đối với các đảo ở Biển Đông không tham gia vào vụ kiện trọng tài có cản trở thẩm quyền của Tòa hay không. Tòa thấy rằng quyền của các Quốc gia khác sẽ không cấu thành “nội dung chính của phán quyết” – tiêu chuẩn để bên thứ ba có thể được coi là bên thứ ba không thể vắng mặt. Tòa cũng lưu ý thêm rằng vào tháng 12/2014, Việt Nam đã đệ trình một tuyên bố lên Tòa, trong đó Việt Nam tuyên bố rằng “không nghi ngờ gì Tòa có thẩm quyền trong vụ kiện này”. Tòa cũng lưu ý rằng Việt Nam, Malaysia và Indonesia đã dự các phiên tòa về thẩm quyền với tư cách quan sát viên, và không Quốc gia nào nêu lên lập luận rằng sự tham gia của mình vào vụ kiện là không thể thiếu.

Trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa lưu ý rằng Tòa đã nhận được công hàm của Malaysia ngày 23/6/2016, trong đó nêu lại những yêu sách của Malaysia ở Biển Đông. Tòa đã so sánh những phán quyết về nội dung thực chất của Đệ trình của Phi-líp-pin với các quyền mà Malaysia yêu sách và tái khẳng định quyết định của mình rằng Malaysia không phải là một bên không thể vắng mặt và rằng lợi ích của Malaysia ở Biển Đông không ngăn cản việc Tòa xem xét các Đệ trình của Phi-líp-pin.

d. Điều kiện tiên quyết đối với thẩm quyền

Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa đã xem xét khả năng áp dụng Điều 281 và 282 của Công ước, là những điều khoản có thể ngăn một Quốc gia sử dụng các cơ chế theo Công ước nếu những quốc gia đó đã đồng ý về việc sử dụng biện pháp khác để giải quyết tranh chấp.

Tòa đã bác bỏ lập luận nêu trong Tài liệu lập trường của Trung Quốc rằng Tuyên bố về Ứng xử của các Bên ở Biển Đông năm 2002 ngăn cản Phi-líp-pin khởi kiện trọng tài. Tòa quyết định là Tuyên bố trên là một thỏa thuận chính trị và không ràng buộc về pháp lý, không quy định ra một cơ chế giải quyết tranh chấp một cách ràng buộc, không loại trừ các biện pháp giải quyết tranh chấp khác, và do đó không hạn chế thẩm quyền của Tòa theo Điều 281 hay 282. Tòa cũng đã xem xét Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á, Công ước về Đa dạng sinh học và một loạt các tuyên bố chung của Phi-líp-pin và Trung Quốc về việc giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán và kết luận rằng những văn kiện này đều không cấu thành một thỏa thuận có tác dụng ngăn cản Phi-líp-pin khởi kiện ra trọng tài.

Tòa cũng cho rằng các Bên đã trao đổi quan điểm của mình liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp, theo như yêu cầu của Điều 283 của Công ước, trước khi Phi-líp-pin khởi kiện trọng tài. Tòa kết luận rằng điều kiện này đã được đáp ứng theo hồ sơ về trao đổi ngoại giao giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, trong đó Phi-líp-pin đã thể hiện quan điểm muốn lựa chọn đàm phán đa phương, có sự tham gia của cả những Quốc gia khác xung quanh Biển Đông, trong khi Trung Quốc một mực quyết định rằng chỉ có các cuộc đàm phán song phương mới được xem xét.

e. Ngoại lệ và giới hạn của thẩm quyền

Trong phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa đã xem xét liệu Đệ trình của Phi-líp-pin liên quan đến các quyền lịch sử của Trung Quốc và ‘đường chín đoạn’ có bị ảnh hưởng bởi các ngoại lệ về thẩm quyền đối với các tranh chấp liên quan đến ‘danh nghĩa lịch sử’ theo Điều 298 của Công ước hay không. Tòa đã rà soát nghĩa của cụm từ ‘danh nghĩa lịch sử’ trong luật biển và quyết định là thuật ngữ này hàm ý những yêu sách về chủ quyền lịch sử đối với các vịnh và vùng biển gần bờ. Sau khi xem xét các yêu sách và hành vi của Trung Quốc ở Biển Đông, Tòa kết luận rằng Trung Quốc đã yêu sách quyền lịch sử đối với các tài nguyên trong ‘đường chín đoạn’, nhưng không yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với các vùng biển ở Biển Đông. Do đó, Tòa kết luận rằng Tòa có thẩm quyền để xem xét các nội dung kiện của Phi-líp-pin liên quan đến quyền lịch sử và về vấn đề ‘đường chín đoạn’ giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc.

Trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa cũng xem xét liệu các Đệ trình của Phi-líp-pin có bị ảnh hưởng bởi việc loại trừ khỏi thẩm quyền theo Điều 298 những tranh chấp liên quan đến phân định ranh giới biển. Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Tòa đã kết luận rằng các Đệ trình của Phi-líp-pin không liên quan đến việc phân định ranh giới, nhưng cũng lưu ý rằng một vài điểm trong Đệ trình của Phi-líp-pin phụ thuộc vào một số khu vực biển nhất định có thuộc một phần vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin không. Tòa quyết định rằng Tòa chỉ có thể xem xét những đệ trình đó nếu Trung Quốc không có khả năng được hưởng một vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin và đã hoãn đưa ra quyết định cuối cùng về thẩm quyền. Trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa đã xem xét các bằng chứng về các bãi và đảo mà Trung Quốc yêu sách ở Biển Đông và kết luận rằng không một đảo, bãi nào có khả năng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế. Do Trung Quốc không có khả năng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin ở các đảo của Trường Sa, Tòa quyết định là các đệ trình của Phi-líp-pin không phụ thuộc vào việc phân định ranh giới.

Trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa cũng xem xét liệu Đệ trình của Phi-líp-pin có bị ảnh hưởng việc loại trừ khỏi thẩm quyền theo Điều 298 những tranh chấp liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật ở vùng đặc quyền kinh tế hay không. Tòa nhắc lại rằng ngoại lệ ở Điều 298 chỉ có thể áp dụng nếu Đệ trình của Phi-líp-pin liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật ở vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc. Tuy nhiên, do Đệ trình của Phi-líp-pin liên quan đến các sự kiện diễn ra trong chính vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin hoặc ở vùng lãnh hải, Tòa đã kết luận rằng Điều 298 không cản trở thẩm quyền của Toà.

Cuối cùng, trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa đã xem xét liệu các đệ trình của Phi-líp-pin có bị ảnh hưởng bởi việc loại trừ khỏi thẩm quyền theo Điều 298 những tranh chấp liên quan đến hoạt động quân sự hay không. Tòa quyết định là sự đụng độ giữa lực lượng lính thủy đánh bộ của Phi-líp-pin ở Bãi Cỏ Mây và hải quân, lực lượng thực thi pháp luật của Trung Quốc đã cấu thành các hoạt động quân sự và kết luận rằng Tòa không có thẩm quyền đối với Đệ trình số 14(a)-(c). Tòa cũng xem xét liệu các hoạt động cải tạo và xây dựng đảo nhân tạo ở bảy cấu trúc thuộc quần đảo Trường Sa có cấu thành hoạt động quân sự hay không, nhưng lưu ý rằng Trung Quốc đã liên tục nhấn mạnh bản chất phi quân sự của những hoạt động của mình và đã tuyên bố ở cấp cao nhất rằng Trung Quốc sẽ không quân sự hóa sự hiện diện của mình trên Trường Sa. Tòa đã quyết định rằng Tòa sẽ không coi các hoạt động trên có tính quân sự khi mà bản thân Trung Quốc đã liên tục khẳng định điều ngược lại. Do đó, Tòa kết luận rằng Điều 298 không cản trở thẩm quyền của Tòa.

  1. Phán quyết của Tòa liên quan đến Nội dung khởi kiện thực chất của Phi-líp-pin

a. Đường chín đoạn’ và Yêu sách Quyền lịch sử của Trung Quốc trên các vùng biển thuộc Biển Đông

Trong Phán quyết ngày 12/7/2016, Tòa đã xem xét đến giá trị của ‘đường chín đoạn’ của Trung Quốc và liệu Trung Quốc có quyền lịch sử đối với các tài nguyên ở Biển Đông bên ngoài giới hạn của các vùng biển mà nước này được hưởng theo Công ước hay không.

Tòa đã xem xét lịch sử của Công ước và những điều khoản của nó liên quan đến các vùng biển và kết luận rằng mục đích của Công ước là phân bổ một cách toàn diện các quyền của các Quốc gia đối với các vùng biển. Tòa lưu ý rằng câu hỏi về những quyền tồn tại từ trước đối với tài nguyên (đặc biệt là đối với tài nguyên cá) đã được xem xét cẩn thận trong các cuộc đàm phán về sự hình thành vùng đặc quyền kinh tế và rằng một số Quốc gia đã có mong muốn bảo tồn các quyền đánh cá lịch sử ở vùng biển mới này. Tuy nhiên, quan điểm này đã bị từ chối, và văn bản cuối cùng của Công ước chỉ cho các Quốc gia khác một quyền hạn chế trong việc tiếp cận về đánh cá ở vùng đặc quyền kinh tế (trong trường hợp Quốc gia ven biển không thể khai thác hết lượng cá cho phép) và không cho các quốc gia khác quyền gì đối với dầu khí hay tài nguyên khoáng sản. Tòa nhận thấy rằng yêu sách về quyền lịch sử của Trung Quốc đối với các tài nguyên là không phù hợp với quy định chi tiết về quyền và vùng biển của Công ước và kết luận rằng nếu Trung Quốc đã từng có quyền lịch sử đối với tài nguyên ở các vùng biển ở Biển Đông, những quyền đó đã bị xóa bỏ khi Công ước có hiệu lực do các quyền này không phù hợp với hệ thống các vùng biển của Công ước.

Tòa cũng xem xét hồ sơ lịch sử để xác định liệu Trung Quốc có thật là có quyền lịch sử đối với tài nguyên ở Biển Đông trước khi Công ước có hiệu lực hay không. Tòa lưu ý rằng có chứng cứ cho thấy người đi biển và ngư dân của Trung Quốc, cũng như của các nước khác, trong lịch sử đã sử dụng các đảo ở Biển Đông, mặc dù Tòa nhấn mạnh rằng Tòa không có thẩm quyền để xác định chủ quyền đối với những đảo đó. Tuy nhiên, Tòa quyết định là trước khi có Công ước, các vùng biển ở Biển Đông bên ngoài vùng lãnh hải về pháp lý đều là một phần của vùng biển quốc tế, tại đó tàu thuyền của bất kỳ Quốc gia nào đều có thể qua lại và đánh cá một cách tự do. Vì vậy, Tòa đã kết luận rằng việc Trung Quốc qua lại và đánh cá trong lịch sử ở vùng biển của Biển Đông đã thể hiện các quyền tự do trên biển cả, thay vì một quyền lịch sử, và rằng không có chứng cứ nào cho thấy rằng trong lịch sử Trung Quốc đã thực hiện việc kiểm soát một cách độc quyền các vùng biển ở Biển Đông hay ngăn cản các quốc gia khác khai thác những tài nguyên của mình.

Do đó, Tòa kết luận rằng, giữa Phi-líp-pin và Trung Quốc, không có căn cứ pháp lý nào để Trung Quốc yêu sách các quyền lịch sử đối với tài nguyên, bên ngoài những quyền được quy định trong Công ước, tại các vùng biển nằm bên trong ‘đường chín đoạn’.

b. Quy chế của các cấu trúc tại Biển Đông

Trong Phán quyết ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng tài đã xem xét quy chế của các cấu trúc tại Biển Đông và quyền được hưởng các vùng biển mà Trung Quốc có thể yêu sách theo Công ước.

Trước hết, Toà thực hiện đánh giá kỹ thuật về việc liệu một số bãi san hô mà Trung Quốc đòi hỏi có nổi trên mặt nước khi thủy triều lên cao hay không. Theo Điều 13 và 121 của Công ước, các cấu trúc nổi trên mặt nước khi thủy triều lên cao sẽ ít nhất được hưởng lãnh hải 12 hải lý, trong khi những cấu trúc bị chìm khi thủy triều lên sẽ không có quyền được hưởng các vùng biển. Tòa Trọng tài ghi nhận rằng nhiều rặng san hô tại Biển Đông đã bị thay đổi nặng nề do việc cải tạo và xây dựng đảo gần đây và nhắc lại rằng Công ước phân loại các cấu trúc dựa trên điều kiện tự nhiên của nó. Tòa Trọng tài đã chỉ định một chuyên gia thủy văn học để hỗ trợ Tòa trong việc đánh giá các bằng chứng kỹ thuật của Phi-líp-pin và dựa chủ yếu vào các tài liệu lưu trữ và các đánh giá thủy văn trước đây để đánh giá các cấu trúc này. Tòa Trọng tài nhất trí với Phi-líp-pin rằng bãi Scarborough, Gạc Ma, Châu Viên và Chữ Thập là các cấu trúc nổi và Xu Bi, Huy-gơ, Vành Khăn và cỏ Mây là cấu trúc chìm trong điều kiện tự nhiên. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài không nhất trí với Phi-líp-pin về quy chế của Ga Ven (phía Bắc) và Ken Nan và kết luận rằng cả hai đều là cấu trúc nổi.

Tòa Trọng tài tiếp theo đã xem xét liệu có cấu trúc nào mà Trung Quốc yêu sách có thể tạo ra các vùng biển ngoài 12 hải lý hay không. Theo Điều 121 của Công ước, các đảo tạo ra vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và có thềm lục địa, nhưng “các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa”. Tòa Trọng tài thấy rằng quy định này liên hệ chặt chẽ với việc mở rộng quyền tài phán của Quốc gia ven biển với việc hình thành vùng đặc quyền kinh tế và nhằm để ngăn ngừa việc các cấu trúc nhỏ có thể được hưởng các vùng biển lớn, từ đó xâm phạm vào vùng biển của các lãnh thổ có người dân cư trú hoặc vùng biển quốc tế và vùng đáy biển vốn là di sản chung của nhân loại. Tòa Trọng tài giải thích Điều 121 và kết luận rằng các quyền được hưởng vùng biển của một cấu trúc phụ thuộc vào (a) năng lực khách quan của cấu trúc; (b) trong điều kiện tự nhiên, cấu trúc đó có thể duy trì hoặc (c) một cộng đồng dân cư ổn định hoặc (d) hoạt động kinh tế mà không phụ thuộc vào tài nguyên bên ngoài và cũng không thuần túy mang tính chất khai thác.

Tòa Trọng tài thấy rằng nhiều cấu trúc tại Trường Sa hiện đang được một hoặc nhiều quốc gia ven biển kiểm soát trong đó đã xây dựng các cấu trúc và duy trì nhân lực tại chỗ. Tòa Trọng tài thấy rằng sự hiện diện này phụ thuộc vào các nguồn lực và hỗ trợ bên ngoài và thấy rằng nhiều cấu trúc đã bị biến đổi để nâng cao khả năng sinh sống của con người, kể cả thông qua cải tạo đảo và xây dựng các cơ sở hạ tầng như các nhà máy xử lý nước mặn. Tòa Trọng tài kết luận rằng việc hiện diện của các nhân viên công quyền trên nhiều cấu trúc không chứng minh được khả năng của các cấu trúc này, trong điều kiện tự nhiên, có khả năng duy trì cộng đồng cư dân ổn định và cho rằng các bằng chứng lịch sử về việc định cư hoặc đời sống kinh tế có giá trị thiết thực hơn đối với năng lực khách quan của các cấu trúc. Qua đánh giá hồ sơ lịch sử, Tòa Trọng tài thấy rằng các đảo Trường Sa trong lịch sử từng được các nhóm nhỏ ngư dân từ Trung Quốc và các nước khác sử dụng, và một số công ty khai thác phân chim và đánh cá của Nhật đã có hoạt động tại đây vào những năm 1920 và 1930. Tòa Trọng tài kết luận rằng việc sử dụng tạm thời các cấu trúc của ngư dân không dẫn đến việc cư ngụ của một cộng đồng ổn định và tất cả các hoạt động kinh tế trong lịch sử đều chỉ có tính chất khai thác. Theo đó, Tòa Trọng tài kết luận rằng tất các cấu trúc nổi tại Trường Sa (bao gồm, ví dụ, Ba Bình, Thị Tứ, Bến Lạc, Trường Sa, Song Tử Đông, Song Tử Tây) đều là “đảo đá” về mặt pháp lý và không tạo ra vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.

Tòa Trọng tài cũng kết luận rằng Công ước không quy định việc một nhóm các đảo như quần đảo Trường Sa sẽ có các vùng biển với tư cách là một thực thể thống nhất.

c. Các hành vi của Trung Quốc tại Biển Đông

Trong Phán quyết ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng tài đã xem xét tính hợp pháp theo Công ước đối với nhiều hành động của Trung Quốc tại Biển Đông.

Sau khi kết luận Vành Khăn, Bãi Cỏ Mây và Bãi Cỏ Rong là cấu trúc chìm, tạo thành một phần của vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Phi-líp-pin và không chồng lấn với bất kỳ vùng biển nào Trung Quốc có thể được hưởng, Tòa Trọng tài kết luận rằng Công ước đã rõ ràng trong việc trao quyền chủ quyền cho Phi-líp-pin đối với các khu vực biển trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Tòa Trọng tài xác định, trên thực tế, Trung Quốc đã (a) can thiệp vào việc thăm dò dầu khí của Phi-líp-pin tại Bãi Cỏ Rong; (b) chủ ý cấm các tàu Phi-líp-pin đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin và (c) bảo vệ cho và không ngăn chặn các ngư dân Trung Quốc đánh bắt cá trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin tại Vành Khăn và Bãi Cỏ Mây, và (d) xây dựng các công trình và đảo nhân tạo tại Vành Khăn mà không được sự đồng ý của Phi-líp-pin. Do vậy Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Phi-líp-pin đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước này.

Tiếp theo Tòa Trọng tài xem xét quyền đánh cá truyền thống tại bãi Scarborough và kết luận rằng ngư dân từ Phi-líp-pin, cũng như Trung Quốc và các nước khác, đã đánh cá tại bãi Scarborough từ lâu và có quyền đánh cá truyền thống tại khu vực này. Do bãi Scarborough nổi trên mặt nước lúc thủy triều lên, cấu trúc này có quyền có lãnh hải, vùng nước xung quanh cấu trúc này không tạo thành vùng đặc quyền kinh tế và quyền đánh cá truyền thống không bị mất đi do quy định của Công ước. Dù Tòa Trọng tài nhấn mạnh rằng Tòa không quyết định về vấn đề chủ quyền đối với bãi Scarborough, Tòa xác định rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ tôn trọng quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Phi-líp-pin khi ngăn chặn việc tiếp cận bãi Scarborough sau tháng 5 năm 2012. Tuy nhiên, Tòa Trọng tài thấy rằng Tòa cũng sẽ có kết luận tương tự đối với quyền đánh cá truyền thống của ngư dân Trung Quốc nếu Phi-líp-pin có hành động ngăn cản việc đánh cá của công dân Trung Quốc tại bãi Scarborough.

Tòa Trọng tài cũng xem xét tác động của các hành vi của Trung Quốc đối với môi trường biển. Để làm việc này, Tòa Trọng tài đã có sự trợ giúp của 3 chuyên gia độc lập về sinh học của rặng san hô được chỉ định để đánh giá các chứng cứ khoa học hiện có và các báo cáo của chuyên gia của Phi-líp-pin. Tòa Trọng tài xác định rằng việc Trung Quốc cải tạo đất quy mô lớn và xây dựng đảo nhân tạo gần đây tại bảy cấu trúc tại Trường Sa đã gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đối với môi trường rặng san hô và Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ của mình theo Điều 192 và 194 của Công ước trong việc bảo tồn và bảo vệ môi trường biển đối với các hệ sinh thái dễ bị tổn thương và môi trường sinh sống của các loài sinh vật bị đe dọa, sắp cạn kiệt. Đồng thời Tòa Trọng tài cũng xác định rằng ngư dân Trung Quốc đã thực hiện việc khai thác động vật bị đe dọa như rùa biển, san hô và trai khổng lồ ở quy mô lớn tại Biển Đông, sử dụng các biện pháp gây hủy hoại nghiêm trọng đối với môi trường rặng san hô. Tòa Trọng tài xác định rằng chính quyền Trung Quốc đã nhận thức được các hành vi này và không thực hiện nghĩa vụ cần thiết theo Công ước để ngăn chặn.

Cuối cùng, Hội đồng Trọng Tài đã xem xét tính hợp pháp của các hành vi của tàu chấp pháp Trung Quốc tại bãi Scarborough trong hai tình huống vào tháng 4 và 5 năm 2012 khi các tàu Trung Quốc đã cố gắng cản trở tàu Phi-líp-pin tiếp cận hoặc tiến vào bãi Scarborough. Để làm việc này, Tòa Trọng tài đã được một chuyên gia độc lập về an toàn hàng hải được chỉ định để hỗ trợ trong việc xem xét các báo cáo bằng văn bản do các sĩ quan tàu Phi-líp-pin cung cấp và các chứng cứ chuyên gia về an toàn hàng hải do Phi-líp-pin cung cấp. Tòa Trọng tài xác định rằng các tàu chấp pháp của Trung Quốc đã liên tiếp tiếp cận tàu Phi-líp-pin với tốc độ cao và cố gắng cắt đầu các tàu này ở khoảng cách gần, tạo ra nguy cơ đâm va cao và nguy hiểm cho tàu và người của Phi-líp-pin. Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm nghĩa vụ theo Công ước về Quy định Quốc tế để Ngăn ngừa Va chạm trên Biển 1972 và Điều 94 của Công ước liên quan đến an toàn hàng hải.

d. Làm trầm trọng thêm tranh chấp giữa các Bên

Trong Phán quyết ngày 12 tháng 7 năm 2016, Tòa Trọng tài đã xem xét liệu các hoạt động cải tạo đất quy mô lớn gần đây và xây dựng các đảo nhân tạo của Trung Quốc tại 7 cấu trúc tại Trường Sa từ khi bắt đầu thủ tục trọng tài có làm gia tăng tranh chấp giữa các Bên. Tòa Trọng tài nhắc lại rằng các bên tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp có nghĩa vụ kiềm chế việc làm trầm trọng thêm hoặc mở rộng một tranh chấp hoặc các tranh chấp về các vấn đề đang được thụ lý. Tòa Trọng tài thấy rằng Trung Quốc đã (a) xây dựng một đảo nhân tạo lớn tại Vành Khăn, một cấu trúc lúc chìm lúc nổi nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Phi-líp-pin; (b) gây ra hủy hoại lâu dài, không thể phục hồi đối với hệ sinh thái rặng san hô và (c) phá hủy lâu dài các chứng cứ về điều kiện tự nhiên của các cấu trúc này. Tòa Trọng tài kết luận rằng Trung Quốc đã vi phạm các nghĩa vụ về kiềm chế làm trầm trọng thêm và kéo dài tranh chấp giữa các Bên trong khi chờ quá trình xét xử.

e. Hành vi tương lai của các Bên

Cuối cùng, Tòa Trọng tài xem xét đề nghị của Phi-líp-pin về việc đưa ra tuyên bố rằng, từ nay về sau, Trung Quốc cần tuân thủ các quyền và quyền tự do của Phi-líp-pin và tuân thủ các nghĩa vụ của Trung Quốc theo Công ước. Về vấn đề này, Tòa Trọng tài thấy rằng cả Phi-líp-pin và Trung Quốc đều đã nhiều lần thừa nhận Công ước và các nghĩa vụ chung về thiện chí trong xác định và điều chỉnh các hành vi của mình. Tòa Trọng tài xét rằng cốt lõi của tranh chấp trong vụ kiện này không nằm ở ý định của Trung Quốc hay Phi-líp-pin trong việc xâm phạm quyền lợi pháp lý của bên kia, mà chính là do có sự hiểu khác nhau cơ bản về các quyền của nước mình theo Công ước đối với các vùng nước thuộc Biển Đông. Tòa Trọng tài nhắc lại rằng trong luật pháp quốc tế có nguyên tắc cơ bản là “không thiện chí” không thể tự suy diễn và thấy rằng Điều 11 của Phụ lục VII đã quy định “phán quyết…sẽ được các bên trong tranh chấp tuân thủ”. Vì vậy, Tòa Trọng tài thấy không cần thiết phải đưa ra thêm tuyên bố nào nữa.

Nguồn: Nghiên cứu Biển Đông

Xem bản gốc tiếng Anh: https://www.documentcloud.org/documents/2990594-PH-CN-20160712-Press-Release-No-11-English.html

Toàn văn Phán quyết của Toà: https://www.documentcloud.org/documents/2990595-PH-CN-20160712-Award.html

Phán quyết về thẩm quyền trong vụ Philippines – Trung Quốc: Một khởi đầu khả quan trong cuộc chiến pháp lý về Biển Đông

BTV: Ngày 12/7 sp ti đây, Toà Trng tài thường trc ti La Haye s ra phán quyết cuối cùng cho v kin tranh chp Bin Đông mà Philippines khi s chng li Trung Quc.  Trung Quc vn tiếp tc t chi tham gia cũng như tuyên b s không công nhn phán quyết ca Toà. Lp trường ca Trung Quc là Toà Trng tài không có thm quyn đối vi v kin này.

Bài viết dưới đây gi ti đc gi mt cái nhìn tng quan cũng như phân tích quá trình và nhng cơ s mà Toà trng tài da trên nhm quyết đnh thm quyn ca Toà đi vi nhng ni dung Philippines kin Trung Quc. Tác gi bài viết Nguyn Ngc Lan hin đang là nghiên cu sinh khoa Lut thuc trường Đi hc Cambridge ca Vương quc Anh, và cũng là mt thành viên ca D án Đi S Ký Bin Đông. Các ph chú trong bài do BTV thêm vào đ giúp đc gi mới có th theo dõi bài viết d dàng hơn. Mt phiên bn ca bài viết đã được đăng trên Zing ngày 24/11/2015.

————

Phán quyết v thm quyn trong v Philippines – Trung Quc: Mt khi đu kh quan trong cuc chiến pháp lý v Bin Đông

Tác gi: Nguyn Ngc Lan

Ngày 22 tháng 1 năm 2013 Philippines đã nộp bản Thông báo và Tuyên bố khởi kiện để khởi kiện ra trọng tài chống lại Trung Quốc trong một vụ kiện về “Thẩm quyền trên các vùng biển của Philippines đối với Biển Tây Philippines” theo các quy định của Phụ lục VII Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS). Ngày 19 tháng 2 năm 2013, Trung Quốc đưa ra Công hàm “Quan điểm của Trung Quốc đối với các vấn đề ở Biển Nam Trung Hoa” từ chối và trả lại bản Thông báo của Philippines, cũng như tuyên bố rằng nước này sẽ không tham gia vụ kiện.[1] Mặc dù Trung quốc từ chối tham gia vào tiến trình trọng tài, theo Điều 9 Phụ lục VII CƯLB[2] tiến trình trọng tài sẽ vẫn được tiếp tục và Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã được chọn làm Ban thư ký cho tòa trọng tài trong vụ kiện này. Trong Bản tranh tụng do Philippines nộp lên Toà[3], Philippines yêu cầu Toà xem xét 15 đệ trình. Các đệ trình này có thể được phân loại thành ba nhóm vấn đề chính. Thứ nhất, yêu sách của Trung Quốc dựa trên “quyền lịch sử” bao hàm trong cái gọi là đường chín đoạn không phù hợp với UNCLOS và vì thế vô giá trị. Thứ hai, Philippines yêu cầu Toà xác định liệu theo UNCLOS, một số các thực thể mà cả Philippines và Trung Quốc yêu sách có thể được xem là đảo, đảo đá, bãi nửa nổi nửa chìm hay bãi chìm. Thứ ba, Philippines yêu cầu Toà tuyên bố Trung Quốc đã vi phạm Công ước thông qua việc can thiệp vào việc thực thi các quyền chủ quyền và quyền tự do của Philippines theo Công ước và thông qua các hoạt động xây dựng đảo và đánh bắt cá gây tổn hại đến môi trường biển. Như đã nói ở trên, Trung Quốc tuyên bố không tham gia vụ kiện nhưng nước này vẫn sử dụng nhiều biện pháp để Toà biết đến lập trường của mình, trong đó quan trọng nhất là Trung Quốc đã đưa ra Bản Tuyên bố Lập trường chính thức vào tháng 12/2014[4] trong đó nước này cho rằng Toà Trọng tài không có thẩm quyền để xét xử vụ kiện này.

Ni dung Phán quyết v Thm quyn và Kh năng Th

Gần ba năm sau khi Philippines chính thức khởi kiện Trung Quốc ra trước Toà Trọng tài theo Phụ lục VII UNCLOS và ba tháng sau khi Phiên Điều trần về thẩm quyền diễn ra tại Cung điện Hoà bình, trụ sở của Toà Trọng tài thường trực tại La Hay, ngày 29/10/2015 Toà Trọng tài đã đưa ra Phán quyết về Thẩm quyền và Khả năng thụ lý vụ việc[5]. Cần nhắc lại là trong Yêu cầu Thủ tục số 4, Toà xác định mặc dù Trung Quốc từ chối tham gia vụ kiện, Toà vẫn quyết định xem các tuyên bố và thông báo của Trung Quốc như lập luận chính thức của nước này về vấn đề thẩm quyền, và vì thế Toà quyết định tổ chức phiên tranh tụng liên quan đến thẩm quyền riêng biệt với phiên tranh tụng về nội dung thực chất của vụ việc. Trong Phán quyết về Thẩm quyền, Toà trọng tài đã xem xét lần lượt các điều kiện này và đưa ra quyết định rằng Toà có thẩm quyền đối với 7 vấn đề, trong đó có 2 vấn đề với điều kiện không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Toà gác lại vấn đề thẩm quyền đối với 7 vấn đề để xem xét cùng với các nội dung thực chất, và yêu cầu Philippines làm rõ 1 đệ trình của mình.

Phán quyết, với tính chất là một phán quyết về thẩm quyền, không xem xét tính đúng sai của các đệ trình của Philippines mà chỉ tập trung phân tích câu hỏi liệu Toà trọng tài có thẩm quyền để xem xét các đệ trình này hay không. Sở dĩ Toà phải có bước xác định thẩm quyền là bởi vì một trong những nguyên tắc cơ bản của giải quyết tranh chấp quốc tế thông qua toà án hoặc toà trọng tài quốc tế là: toà chỉ có thể xét xử một vụ tranh chấp giữa hai quốc gia nếu như được sự đồng ý của cả hai quốc gia đó. Vì thế, trong một số tranh chấp, toà thường chia quá trình tranh tụng thành hai giai đoạn: giai đoạn xét xử thẩm quyền, sau đó mới đến giai đoạn xét xử nội dung. Giai đoạn xét xử thẩm quyền là nhằm xác định xem liệu hai quốc gia tranh chấp đã đồng ý trao vụ tranh chấp cho toà xem xét hay chưa và nếu có các điều kiện kèm theo sự chấp thuận này thì các điều kiện đó đã được thoả mãn hay chưa? Một nguyên tắc cơ bản trong giải quyết tranh chấp quốc tế và cũng đã được ghi nhận tại Điều 288(4) của UNCLOS đó là khi có sự bất đồng về việc cơ quan tài phán có thẩm quyền hay không thì vấn đề sẽ do chính cơ quan đó quyết định.[6]

Theo quy định của UNCLOS thì khi một quốc gia trở thành thành viên của Công ước thì quốc gia đó đã đồng ý chấp thuận thẩm quyền bắt buộc của các toà án và toà trọng tài được thành lập theo Điều 287 UNCLOS, trong đó có Toà Trọng tài theo Phụ lục VII. Trong vụ việc này, cả Philippines và Trung Quốc đều là thành viên của UNCLOS, và vì thế, hai quốc gia này xem như đã chấp nhận thẩm quyền của Toà Trọng tài. Tuy nhiên, thẩm quyền của Toà trọng tài theo UNCLOS lại đi kèm ba điều kiện chính. Đó là: (i) tranh chấp này liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS, (ii) Philippines phải thỏa mãn các yêu cầu thủ tục về trao đổi quan điểm trước khi tiến hành khởi kiện và gữa hai bên không có một thoả thuận về việc sử dụng một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc khác, và (iii) các tranh chấp được Philippines nêu ra không bị loại trừ khỏi thẩm quyền của tòa trọng tài theo tuyên bố của Trung Quốc theo Điều 298. Các tranh chấp mà Trung Quốc đã loại trừ trong Tuyên bố năm 2006 theo Điều 298 bao gồm: các tranh chấp về phân định biển, tranh chấp về danh nghĩa lịch sử và vịnh lịch sử, tranh chấp về việc thực thi luật pháp liên quan đến nghề cá và nghiên cứu khoa học biển trong vùng đặc quyền kinh tế, tranh chấp liên quan đến các hoạt động quân sự và các tranh chấp đang được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc xem xét.[7] Ba điều kiện này cũng chính là cơ sở mà Trung Quốc dựa vào để phản đối thẩm quyền của Toà như đã nêu trong Bản Tuyên bố Lập trường của nước này. Toà Trọng tài chỉ có thể tiếp tục xem xét cụ thể các nội dung khởi kiện của Philippines nếu như Toà xác định các điều kiện nêu trên đã được thoả mãn.

Phán quyết về thẩm quyền của Toà cho thấy ít nhất là điều kiện (i) và (ii) đã được thoả mãn. Đầu tiên, Toà đã làm rõ bản chất của tranh chấp mà Philippines đưa ra. Theo quy định tại Điều 288(1) UNCLOS, Toà trọng tài theo Phụ lục VII chỉ có thể xét xử một vụ tranh chấp nếu vụ việc này liên quan đến việc “giải thích và áp dụng Công ước”. Vì thế, Toà phải cân nhắc liệu tranh chấp mà Phillipines đệ trình có thực sự liên quan đến UNCLOS hay không, hay bản chất của tranh chấp, như Trung Quốc phản bác, là về vấn đề chủ quyền đối với các thực thể đang tranh chấp trên Biển Đông. Toà cho rằng việc giải quyết các đệ trình của Philippines sẽ không đòi hỏi Toà phải đưa ra một quyết định về chủ quyền một cách trực tiếp hay gián tiếp, và mục đích thực sự của các đệ trình của Philippines không phải là để tranh cãi về yêu sách chủ quyền của các bên. Philippines không hề yêu cầu Toà đưa ra phán quyết về chủ quyền, mà ngược lại, còn yêu cầu Toà tránh không xem xét chủ quyền. Vì thế, mặc dù đúng là giữa hai bên có tồn tại tranh chấp về chủ quyền, tranh chấp mà Toà phải giải quyết không liên quan đến vấn đề này mà chỉ liên quan đến việc giải thích và áp dụng UNCLOS. Chính vì vậy, tranh chấp này thuộc thẩm quyền của Toà.

Trung Quốc cũng lập luận rằng các đệ trình mà Philippines đưa ra là một phần không thể tách rời của tranh chấp về phân định biển. Trong khi đó, Trung Quốc đã loại trừ tranh chấp về phân định biển ra khỏi thẩm quyền của Toà dựa trên Tuyên bố của nước này đưa ra năm 2006 theo quy định của Điều 298 UNCLOS. Vì thế, Trung Quốc cho rằng Toà Trọng tài không có thẩm quyền để xem xét các đệ trình của Philippines. Câu hỏi liệu việc xác định quy chế pháp lý của các thực thể, đồng nghĩa với việc xác định phạm vi vùng biển mà thực thể có thể được hưởng theo yêu cầu của Philippines và việc phân định biển là hai vấn đề pháp lý riêng biệt hay chỉ là một vốn gây nhiều tranh cãi trong giới học giả. Toà Trọng tài cho rằng đây là hai vấn đề tách biệt nhau. Toà lập luận rằng một tranh chấp liên quan đến việc xác định các vùng biển mà một thực thể được hưởng và một tranh chấp liên quan đến phân định các vùng biển chồng lấn là hai tranh chấp hoàn toàn khá biệt. Mặc dù việc xác định phạm vi vùng biển thường là một trong các vấn đề đầu tiên phải giải quyết trong quá trình phân định, hai vấn đề này không thể bị đánh đồng làm một. Trong vụ việc này, Philippines không yêu cầu Toà phân định các vùng biển chồng lấn giữa hai quốc gia, và Toà cũng không tiến hành phân định vùng biển nào. Do đó, yêu cầu của Philippines không thể bị loại trừ khỏi thẩm quyền của Toà như Trung Quốc lập luận. Tuyên bố năm 2006 của Trung Quốc có thể sẽ giới hạn thẩm quyền của Toà trọng tài trong việc xem xét một số đệ trình khác của Philippines. Cụ thể, các đệ trình yêu cầu Toà tuyên bố rằng một số thực thể nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của Philippines hay các hành vi của Trung Quốc đã cản trở Philippines thực hiện quyền chủ quyền của mình trong vùng đặc quyền kinh tế có thể sẽ nằm ngoài thẩm quyền của Toà nếu Toà xác định các thực thể nằm trong đệ trình của Philippines là đảo và vì thế tạo ra vùng biển chồng lấn với các vùng biển của Philippines. Điều này là bởi vì nếu có vùng biển chồng lấn, nếu Toà xác định một vùng biển có phải là của Philippines hay không thì Toà cũng đã tiến hành phân định biển, mà phân định biển là loại tranh chấp đã bị Trung Quốc loại trừ. Tuy vậy, Tuyên bố của Trung Quốc không thể ngăn cản Toà xem xét quy chế pháp lý của các thực thể được đưa ra trong Bản Tranh tụng của Philippines.

Liên quan đến điều kiện thứ hai, giữa Philippines và Trung Quốc tồn tại các thoả thuận song phương cũng như các thoả thuận mang tính khu vực như Tuyên bố Ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), Hiệp ước hữu nghị và hợp tác. Trung Quốc từ trước đến nay vẫn theo đuổi lập trường rằng các các thoả thuận song phương và DOC tạo ra nghĩa vụ cho các bên phải đàm phán và tham vấn song phương để đi đến biện pháp giải quyết cuối cùng. Vì thế, nước này cho rằng việc Philippines đơn phương khởi kiện nước này ra trước Toà Trọng tài đã vi phạm nghĩa vụ đàm phán, cũng như đã vi phạm nguyên tắc thiện chí, cấu thành việc lạm dụng quy trình pháp lý theo UNCLOS. Tuy nhiên, Toà Trọng tài không đồng ý với lập luận của Trung Quốc. Toà Trọng tài xác định rằng cả DOC và các tuyên bố song phương mà Philippines và Trung Quốc đưa ra đều không mang tính ràng buộc về mặt pháp lý và vì thế không tạo ra nghĩa vụ bắt buộc cho các bên phải đàm phán. Kể cả có mang tính ràng buộc đi nữa, tương tự như Hiệp ước hữu nghị hợp tác, các văn bản này đều không chứa đựng một cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc nào, đồng thời cũng không loại trừ quyền của các bên sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của UNCLOS để giải quyết tranh chấp của mình. Toà cũng xác định rằng Philippines và Trung Quốc đã tiến hành đàm phán, tham vấn về các tranh chấp tồn tại giữa hai bên liên quan đến Biển Đông trong một thời gian dài, trong đó hai bên đã thảo luận về các phương án giải quyết tranh chấp khả thi, nhưng không đi đến một kết quả cuối cùng nào cho đến trước khi Philippines khởi kiện. Vì thế, Toà kết luận rằng Trung Quốc không thể ngăn cản Philippines đưa vụ kiện này ra trước Toà trọng tài trên cơ sở rằng hai bên vẫn tiếp tục phải đàm phán. Quan trọng không kém, Toà xác định rằng việc một bên đơn phương khởi kiện ra trước toà trọng tài theo Phần XV không thể cấu thành một sự lạm dụng quyền. Toà Trọng tài nhắc lại rằng Điều 286 trao cho quốc gia thành viên của UNCLOS quyền đơn phương khởi kiện mà không cần phải đàm phán hay được sự đồng ý của bên còn lại, miễn sao phù hợp với quy định về thủ tục của Công ước.

Cuối cùng, liên quan đến các giới hạn và ngoại lệ đối với thẩm quyền theo Điều 297 và 298 UNCLOS, Toà Trọng tài cho rằng việc xem xét liệu các điều khoản này có loại trừ thẩm quyền của toà, như Trung Quốc đã lập luận, phụ thuộc một phần lớn vào quyết định của Toà đối với một số vấn đề thực chất. Ví dụ, Philippines yêu cầu toà tuyên bố các yêu sách về quyền lịch sử Trung Quốc dựa trên đường chín đoạn không phù hợp với UNCLOS, trong khi Điều 298 loại trừ các tranh chấp về danh nghĩa lịch sử và vịnh lịch sử ra khỏi thẩm quyền của toà. Để biết được yêu cầu này của Philippines có rơi vào phạm vi loại trừ của Điều 298 hay không, Toà phải tiến hành xác định xem bản chất của “quyền lịch sử” mà Trung Quốc dựa vào là gì, để xem nó có cùng nội hàm của “danh nghĩa lịch sử hay vịnh lịch sử” hay không. Việc xác đinh bản chất và nội hàm của yêu sách quyền lịch sử của Trung Quốc lại là một vấn đề thuộc về nội dung thực chất của vụ việc. Chính vì thế, Toà quyết định gác lại vấn đề thẩm quyền để xem xét trong Phiên điều trần về nội dung vụ việc đối với một số đệ trình của Philippines có liên quan đến các ngoại lệ này. Cần lưu ý rằng, quyết định này của Toà không có nghĩa là Toà từ chối thẩm quyền đối với các đệ trình này như một số nhà phân tích đã nêu ra, cũng không có nghĩa là Toà xác nhận thẩm quyền và hay đưa ra bất cứ kết luận gì về tính pháp lý của các yêu cầu của Philippines. Điều này chỉ đơn giản là Toà chưa thể đưa ra được kết luận được trong thời điểm này và phải chờ đến phiên tranh tụng về nội dung thì mới có thể quyết định được.

Tm quan trng và tác đng ca Phán quyết v thm quyn

Phán quyết này của Toà Trọng tài, với tính chất là một phán quyết chỉ liên quan đến vấn đề thẩm quyền, chưa trả lời những câu hỏi được quan tâm nhất trong tranh chấp Biển Đông. Tuy nhiên, Phán quyết này đã làm sáng tỏ một số vấn đề quan trọng gây nhiều tranh cãi về việc sử dụng cơ chế thứ ba để giải quyết tranh chấp Biển Đông cho đến nay. Phán quyết chắc chắn cũng sẽ có tác động to lớn đến nỗ lực cũng như quá trình giải quyết tranh chấp của các quốc gia khác trong khu vực.

Khi Philippines quyết định khởi kiện Trung Quốc ra trước Toà Trọng tài để bảo vệ quyền lợi của mình trên Biển Đông, có thể nói một trong những rào cản lớn nhất mà nước này gặp phải chính là vấn đề liệu Toà có thẩm quyền để xét xử vụ việc hay không, do những quy định về thẩm quyền của UNCLOS như đã trình bày ở trên. Việc Toà Trọng tài xác nhận thẩm quyền đối với 7 trong 15 đệ trình của Philippines và không loại trừ khả năng xác lập thẩm quyền đối với các vấn đề còn lại cho thấy việc sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS có thể là một bước đi đúng đắn của Philippines trong nỗ lực tìm ra một biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp với Trung Quốc. Đúng như một số học giả đã bình luận, Philippines được xem như đã đạt được chiến thắng ban đầu trong cuộc chiến pháp lý này. Thông qua Phán quyết này, Toà Trọng tài cũng đã góp một tiếng nói có trọng lượng nhằm bác bỏ các luận điệu thường được Trung Quốc sử dụng từ trước đến nay để né tránh việc giải quyết tranh chấp một cách thực chất. Toà đã khẳng định quyền của quốc gia thành viên UNCLOS đơn phương khởi kiện một quốc gia thành viên khác, miễn sao quá trình khởi kiện tuân thủ các điều kiện của UNCLOS và hành động này không thể bị xem là thiếu thiện chí hay lạm dụng thủ tục tố tụng. Toà cũng bác bỏ vị trí độc tôn của biện pháp đàm phán trong việc giải quyết tranh chấp như Trung Quốc vẫn lập luận. Điều này không có nghĩa là Toà bác bỏ vai trò quan trọng của đàm phán trong quá trình giải quyết tranh chấp nói chung, nhưng với phán quyết này, Toà Trọng tài đã gián tiếp khằng định đàm phán không thể trở thành một cái cớ để quốc gia vin vào nhằm trì hoãn việc đi đến một giải pháp cuối cùng.

Mặc dù hiện vẫn chưa chắc chắn rằng Toà có thể đưa ra quyết định cuối cùng đối với tất cả các đệ trình của Philippines hay không, việc Toà không loại trừ thẩm quyền đối với bất cứ đệ trình nào trong giai đoạn này đồng nghĩa với việc các đệ trình này sẽ được cân nhắc và xem xét trong quá trình xem xét nội dung vụ việc. Kể cả nếu, và khả năng cao là Trung Quốc tiếp tục không tham gia vụ kiện và từ chối không đưa ra quan điểm của mình đối với các nội dung thực chất mà Philippines nêu ra thì Toà cũng sẽ phải tiến hành mổ xẻ, phân tích các vấn đề này. Nói cách khác, các yêu sách của Trung Quốc vốn mập mờ, thiếu cơ sở, ví dụ như yêu sách đường chín đoạn, sẽ được soi rọi và đánh giá dưới góc độ pháp lý. Điều này không chỉ giảm thiểu tác động của chính sách “mập mờ có chủ ý” mà Trung Quốc vẫn duy trì để yêu sách toàn bộ Biển Đông từ trước đến nay mà còn góp phần làm cho phạm vi tranh chấp trên Biển Đông rõ ràng hơn. Kể cả trong trường hợp Toà kết luận rằng mình không có thẩm quyền đối với các đệ trình còn lại, việc Toà xác định được cơ sở pháp lý của yêu sách mù mờ, từ đó góp phần phân biệt phạm vi khu vực có tranh chấp với khu vực không có tranh chấp sẽ tạo tiền đề quan trọng cho các bên tiếp tục thực hiện các biện pháp giải quyết tranh chấp khác hoặc mở ra khả năng để các bên tiến hành các cơ chế khai thác, phát triển chung trong vùng chồng lấn thực sự như đã được dự định từ lâu.

Một vấn đề nổi lên trong Phán quyết về thẩm quyền là “vai trò” của Việt Nam trong vụ kiện này. Trong quá trình xem xét thẩm quyền của mình, Toà Trọng tài cũng xem xét liệu có một bên thứ ba, cụ thể ở đây là Việt Nam, có phải là bên thứ ba không thể thiếu trong vụ kiện không? Lí do Toà Trọng tài phải cân nhắc vấn đề này là bởi vì một trong các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về giải quyết tranh chấp đó là chỉ giải quyết các tranh chấp trên cơ sở đồng ý của các bên liên quan. Chính vì nguyên tắc này, các cơ quan tài phán quốc tế không được xem xét một vụ tranh chấp giữa hai quốc gia trong trường hợp quyền lợi của một quốc gia thứ ba là đối tượng chính trong tranh chấp đó hoặc trong trường hợp toà sẽ phải xem xét tính hợp pháp của hành vi của một quốc gia thứ ba khi đưa ra phán quyết. Mặc dù Việt Nam cũng có tranh chấp về chủ quyền đối với các thực thể nằm trong Bản đệ trình của Philippines, Toà cho rằng việc xác định quy chế pháp lý của các thực thể này không yêu cầu toà đưa ra một quyết định về chủ quyền. Từ đó, Toà kết luận việc xác định quyền và nghĩa vụ của Việt Nam đối với các đệ trình của Philippines không phải là điều kiện tiên quyết để Toà có thể đưa ra phán quyết cuối cùng về nội dung. Hơn nữa, Việt Nam cũng đã đưa ra quan điểm chính thức của mình về vụ kiện, theo đó Việt Nam ủng hộ các bên sử dụng cơ chế tranh chấp của UNCLOS và tin tưởng rằng Toà trọng tài sẽ có thẩm quyền đối với vụ việc này. Việt Nam cũng ủng hộ một số đệ trình của Philippines, cụ thể là đệ trình liên quan đến tính bất hợp pháp của đường chín đoạn và đến quy chế pháp lý của các thực thể, rằng các thực thể này không thể có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Tuyên bố này của Việt Nam giúp Toà càng có cơ sở để khẳng định rằng không bên thứ ba nào là bên không thể thiếu trong vụ việc này.

Vì đây là phán quyết về thẩm quyền, Toà chỉ cân nhắc xem việc xác định quyền lợi của bên thứ ba, Việt Nam, có phải là điều kiện tiên quyết để toà có thẩm quyền hay không. Câu trả lời, như đã chỉ ra ở trên, là không. Tuy nhiên, điều này không nhất thiết đồng nghĩa với việc khi Toà thực hiện thẩm quyền của mình và tiến hành xác định quy chế pháp lý của các thực thể nêu trong Bản đệ trình của Philippines, kết luận của Toà sẽ không ảnh hưởng đến quyền lợi của Việt Nam. Mặc dù phán quyết của Toà sẽ chỉ liên quan đến các thực thể được nêu trong Bản đệ trình của Philippines, để có thể đi đến kết luận về phạm vi vùng biển mà các thực thể này có thể được hưởng theo yêu cầu của Philippines, rất có thể Toà sẽ phải giải thích các Điều 13 hay điều 121(3) vốn chứa đựng các tiêu chuẩn khá chung chung trong UNCLOS. Khi đó, rất có thể Toà sẽ đưa ra các tiêu chuẩn pháp lý, nêu cách áp dụng và giải thích các điều khoản này nhằm làm rõ hơn các tiêu chuẩn chung chung. Hơn nữa, trong Phán quyết của mình, Toà cũng cho rằng cần thiết phải xem xét quy chế của các thực thể pháp lý khác tại Biển Đông, kể cả những thực thể không do Trung Quốc chiếm giữ. Việt Nam có chủ quyền đối với toàn bộ quần đảo Trường Sa và cũng đang chiếm đóng nhiều vị trí nhất tại đây nên một phán quyết của Toà liên quan đến quy chế pháp lý của các thực thể này sẽ có tác động lập trường pháp lý của Việt Nam. Nói cách khác, việc Toà trọng tài xác lập thẩm quyền để xem xét các đệ trình của Philippines là một tin vui không chi đối với nguyên đơn mà còn các nước khác trong khu vực bị ảnh hưởng bởi các yêu sách vô căn cứ của Trung Quốc. Mặt khác, việc Toà thực thi thẩm quyền và đưa ra phán quyết, cụ thể là phán quyết về quy chế pháp lý của các thực thể, sẽ có thể có tác động đến lợi ích của các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.

Kết lun

Philippines có thể được xem là đã thành công trong hiệp một của trận đối đầu pháp lý với Trung Quốc trước Toà trọng tài. Phán quyết về thẩm quyền về cơ bản đã bác bỏ hai cơ sở quan trọng mà Trung Quốc đưa ra để phản đối thẩm quyền của Toà. Phán quyết tạo cơ sở để Toà trọng tài có thể tiếp tục xem xét nội dung thực chất của các đệ trình của Philippines. Phán quyết cũng góp phần khẳng định tính khả thi của việc vận dụng cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS trong tiến trình giải quyết tranh chấp ở Biển Đông. Phán quyết về thẩm quyền cho thấy Toà trọng tài nhận thức được tính chất phức tạp của tranh chấp Biển Đông không chỉ về mặt pháp lý mà còn về chính trị, nhưng điều này không ngăn cản Toà Trọng tài tiến hành xem xét các vấn đề pháp lý có liên quan một cách công bằng dựa trên UNCLOS và các án lệ có liên quan. Theo thông cáo báo chí của Bộ Ngoại giao Philippines, Phiên điều trần về nội dung của vụ tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc sẽ được tiến hành từ ngày 24 đến 30 tháng 11 năm 2015. Mặc dù một “chiến thắng” về thẩm quyền không đồng nghĩa hay đảm bảo một chiến thắng về mặt nội dung, dựa trên những gì Toà trọng tài đã thể hiện trong Phán quyết về thẩm quyền, chúng ta có quyền trông chờ một Phán quyết về nội dung khả quan và đem lại một giải pháp có ý nghĩa cho tranh chấp Biển Đông.

Chú thích:

[1] “Bộ Tư liệu Vụ Kiện giữa Philippines và Trung Quốc về Tranh Chấp Biển Đông tại Toà Trọng Tài”, Dự án Đại Sự Ký Biển Đông (2015): trang 16. Xem trực tuyến tại https://daisukybiendong.files.wordpress.com/2015/10/bo-tu-lieu-vu-phi-kien-trung-quoc-scsci-signed-1110151.pdf

[2] Annex VII: Arbitration

 http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/annex7.htm

[3] Đã dẫn, xem phụ chú 1

[4] Đã dẫn, xem phụ chú 1: trang 17

[5] “Award on Jurisdiction and Admissibility 29102015”, The Permanent Court of Arbitration (2015): https://www.documentcloud.org/documents/2972707-Award-on-Jurisdiction-and-Admissibility-29102015.html

[6] Article 288, UNCLOS 1982:
http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/texts/unclos/part15.htm

[7] Xem “Declarations or Statements upon UNCLOS ratification” http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/convention_declarations.htm

và Tuyên bố của Trung Quốc:

http://www.un.org/depts/los/convention_agreements/convention_declarations.htm#China Upon ratification

 

Đài Loan: Nước cờ cuối trong ván cờ giữa Trung Quốc và Philippines tại La Hay

Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh (Học viện Ngoại giao Hà Nội) bình luận và phân tích sự kiện Bộ Ngoại giao và các học giả Đài Loan công bố những tài liệu thể hiện lập trường và quan điểm của Đài Loan liên quan tới vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc.

Đọc bài viết ở http://nghiencuubiendong.vn/y-kien-va-binh-luan/5752-dai-loan-nuoc-co-cuoi-cung-trong-van-co-giua-trung-quoc-va-philippines-tai-la-hay

Tư liệu liên quan: 

Lập trường chính thức của Đài Loan về chính sách Biển Đông

Tư liệu vụ kiện giữa Philippines và Trung Quốc về tranh chấp Biển Đông tại Toà Trọng tài 

Lập trường chính thức của Đài Loan về chính sách Biển Đông

Ngày 21 tháng 3 vừa qua, Bộ Ngoại Giao Đài Loan đã công bố và loan tải lập trường chính thức về chính sách Biển Đông của Đài Loan. Trong bản văn kiện dày 31 trang, BNG Đài Loan đã dành một phần đáng kể liệt kê và miêu tả chi tiết các tài liệu lịch sử mà họ coi là bằng chứng nhằm chứng minh rằng họ đã có chủ quyền lâu đời trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Dưới đây là toàn văn nội dung văn kiện này:

Position Paper on ROC South China Sea Policy

Republic of China (Taiwan)

March 21, 2016

1. Preface

The Nansha (Spratly) Islands, Shisha (Paracel) Islands, Chungsha (Macclesfield Bank) Islands, and Tungsha (Pratas) Islands (together known as the South China Sea Islands) were first discovered, named, and used by the ancient Chinese, and incorporated into national territory and administered by imperial Chinese governments. Whether from the perspective of history, geography, or international law, the South China Sea Islands and their surrounding waters are an inherent part of ROC territory and waters. The ROC enjoys all rights over them in accordance with international law. This is indisputable. Any claim to sovereignty over, or occupation of, these areas by other countries is illegal, irrespective of the reasons put forward or methods used, and the ROC government recognizes no such claim or occupation.

With respect to international disputes regarding the South China Sea, the ROC has consistently maintained the principles of safeguarding sovereignty, shelving disputes, pursuing peace and reciprocity, and promoting joint development, and in accordance with the United Nations Charter and international law, called for consultations with other countries, participation in related dialogue and cooperative mechanisms, and peaceful resolution of disputes, to jointly ensure regional peace.

2. Grounds for the ROC position

History

The early Chinese have been active in the South China Sea since ancient times. Historical texts and local gazetteers contain numerous references to the geographical position, geology, natural resources of the South China Sea waters and landforms, as well as the activities of the ancient Chinese in the region. The South China Sea Islands were discovered, named, used over the long term, and incorporated into national territory by the early Chinese, so even though most of the islands and reefs are uninhabited, they are not terra nullius.

2.1 Islands in the South China Sea were first discovered by the ancient Chinese.

The chapter “Treatise on Geography” of the Book of Han, written by Ban Gu (32-92 CE), a historian and court official of the Eastern Han dynasty in the first century CE, recounts how Emperor Wu (137-87 BCE) of the Western Han (206 BCE-9 CE) sent envoys to island countries in the southern seas, ushering in future descriptions of isles, reefs and shoals in that region by navigators, indicating that the South China Sea was the route for trade between the Eastern Han and the Roman Empire in the first century BCE.

The Yiwu Zhi, by Yang Fu, a court official of the Eastern Han (25-220 CE), says that “Zhang Hai contains qitou that feature shallow waters and many rocks.” Zhang Hai, literally the “Rising Sea,” was the ancient Chinese name for the South China Sea, referring to the choppy waves and rough seas noted by sailors there. Qitou is an ancient word for isles, reefs and shoals.

In the last years of the Eastern Han, during the era of the Three Kingdoms (220-280 CE), Xie Cheng, magistrate of Wuling in the Kingdom of Wu, in his book History of the Later Han Dynasty (6-189 CE), wrote that “it has been told that there is a vast sandbank in the Rising Sea, which lies east of the country of Funan [an ancient country on the Indochina Peninsula]. The bark of trees on this sandbank turns black during spring, and turns white when set on fire. The bark can be used for the production of handkerchiefs or lamp oil.” The same book notes that during the Western Han dynasty sea routes had been opened up between Indochina and ancient China through the South China Sea.

Emperor Sun Quan of Wu (one of the Three Kingdoms) sent Zhu Ying and Kang Tai as envoys to Funan. Kang Tai later described the geological characteristics of islands of the South China Sea in his book History of Funan, mentioning that “the base of the Coral Islands was actually rock, with coral growing on its surface.” Kang’s description of the region was also cited in the Taiping Yulan (984 CE), compiled by Li Fang during the Northern Song dynasty.

2.2 The South China Sea Islands were first named by the ancient Chinese people and governments.

According to historical records and ancient literature, fishermen and seamen from ancient China, to assure safe navigation and identify sea routes, named islands of the South China Sea based on their features. Examples include Coral Islands, mentioned in History of Guangzhouby Pei Yuan (372-451 CE) of the Jin dynasty; Jiuru Luozhou, mentioned in Collection of the Most Important Military Techniques (1044 CE) by the scholar Zeng Gongliang of the Northern Song dynasty; and Changsha Shitang, mentioned in Notes from the Land beyond the Passes(1178 CE) by Zhou Qufei, an official of the Southern Song dynasty.

As sea travel expanded, the ancient Chinese learned more about the South China Sea and its islands, and began to use collective names for the South China Sea Islands based on their location and extent. These names include Qianli Changsha and Wanli Shitang, recorded by the high-ranking official Wang Xiang-zhi of the Southern Song dynasty in Yu Di Ji Sheng (1221), Wanli Changsha and Wanli Shitang, used by Huang Zhong, a ranking official of the Ming dynasty, in his book Hai Yu (1536), and Nan Ao Qi, mentioned by the high-ranking military official Chen Lun-jiong of the Qing dynasty in Hai Guo Jing Wen Lu (1730).

In 1909, when Japanese citizen Yoshiji Nishizawa attempted to illegally occupy Tungsha (Pratas) Island, the Qing court dispatched Admiral Li Zhun to patrol the Shisha Islands on the vessels Fu Bo and Chen Hang. Li also established marker stones there to proclaim sovereignty. Upon returning from patrol, he received approval from the Viceroy of Liangguang to rename individual islands, confirming names for fifteen of the Shisha Islands.

Between 1934 and 1935, the ROC Ministry of the Interior’s Waters and Land Map Review Committee completed the Comparison Table of the Names of the South China Sea Islands in Mandarin and English, and issued the Map of the South China Sea Islands and Maritime Features, for the first time dividing the South China Sea Islands into four distinct groups. These were named, from north to south, the Tungsha Islands, Shisha Islands, Nansha Islands (now the Chungsha Islands), and Tuansha Islands (now the Nansha Islands). In 1945, the ROC government recovered the South China Sea Islands from Japan after its surrender at the end of WWII, returning them to ROC territory, and confirmed their names as the Tungsha Islands, Shisha Islands, Chungsha Islands, and Nansha Islands. These names are still in use today.

2.3 The South China Sea Islands were first used by the ancient Chinese.

Both Chinese historical records and foreign maritime navigation logs have made reference to the fact that people from southern China used the South China Sea for transportation, fishing, and habitation. For example, in the aforementioned History of Guangzhou written by Pei Yuan of the Jin dynasty, it is stated that “the Coral Islands are 500 li, or roughly 250 kilometers, from southern Guangzhou. People in the past used to fish and collect coral there.”

Foreign navigators of the 19th and early 20th centuries noted the longtime presence of the early Chinese in the South China Sea engaged in economic activities and development. For example, in Volumes Two (1879) and Three (1884) of The China Sea Directory, published by the Hydrographic Office of the Royal Navy, Volume One of the China Sea Pilot, published by the British in 1923, and Volume Four of the Asiatic Pilot, published by the Hydrographic Office of the US Secretary of the Navy in 1925, descriptions can be found of Chinese fishermen from the ROC living in the Nansha Islands and taking advantage of the monsoons to conduct related activities. These sources also include detailed accounts of Chinese fishermen from Hainan who had lived on the islands of the Zhenghe Reefs (Tizard Bank) for a long time and made their living collecting sea cucumbers and turtle shells. At that time, hand-dug wells already existed on Taiping (Itu Aba) Island and The China Sea Directory states that “the water found in the wells on that island was better than elsewhere.”

Between 1930 and 1933, French people made illegal landings on Taiping Island, Nanwei (Spratly) Island, Nanyao (Loaita) Island, Zhongye (Thitu) Island and Beizi Reef (N.E. Cay), discovering some of them were inhabited by ROC fishermen, including children, who made a living by fishing and catching turtles, and raised chickens, vegetables, and sweet potatoes.

Tombstones dating to the Qing dynasty still exist on Taiping Island, confirming that ancient Chinese people lived on the islands and reefs in the South China Sea and pursued economic activities there.

2.4 The South China Sea Islands were first incorporated into national territory by the early Chinese, as is clearly shown in government documents and both domestic and foreign maps.

In his book Zhu Fan Zhi (1225), Zhao Rugua (1170-1228), a Song dynasty official, describing projects in Hainan and the region’s geographical location, says it faces Champa to the south and Zhenla to the west. To its east are Qianli Changsha and Wanli Shichuang in an endless sea where the sky meets the water, with ships plying back and forth. The Records of Qiongzhou, edited by Chen Yuchen and Ouyang Can of the Ming dynasty, also explains the history and geographical location of the Hainan region.

The official publication Records of Quanzhou—published during the reign of the Qianlong Emperor in the Qing dynasty—clearly records that Wu Sheng, adjutant general at Guangdong, was transferred (no later than 1721) to Qiongzhou, Hainan Island, and made a tour of territory including Qiongyai and Tonggu on Hainan, the Shisha Islands (Qizhouyang) and back to Sigengsha on Hainan, covering 3,000 li and observing peacefulness in the area. This indicates that no later than the mid-Qing dynasty the government had incorporated the South China Sea Islands into the national maritime defensive system and exerted jurisdiction over them.

The Unified World Map of the Great Qing Dynasty, published in 1767, the 32nd year of the reign of the Qianlong Emperor, includes Wanli Changsha and Wanli Shitang (ancient terms for the South China Sea Islands) in its territory. This map was reprinted in 1811 during the reign of the Jiaqing Emperor and is now housed at Taipei’s National Palace Museum.

Following the founding of the Republic of China in 1912, the government published the Map of the South China Sea Islands and Maritime Features in the second issue of the Waters and Land Map Review Committee Journal in April 1935. This was the first time that it published a map of the South China Sea Islands, and showed ROC territory in the South China Sea reaching as far south as 4° north latitude, marking Zengmu Bank (James Shoal; renamed Zengmu Shoal in 1946) as ROC territory. The map also served as a prototype for the 11-dash line. In addition, the ROC Waters and Land Map Review Committee completed the Comparison Table of the Names of the South China Sea Islands in Mandarin and English, and issued the Map of the South China Sea Islands and Maritime Features.

On December 1, 1947, the ROC Ministry of the Interior (MOI) issued the Location Map of the South China Sea Islands to serve as a basis for recovering and stationing forces on the Shisha and Nansha Islands. The map showed an 11-dash line (also known as the U-shaped line) surrounding the South China Sea Islands, the southernmost point of which is 4° north latitude. The Tungsha Islands, Shisha Islands, Chungsha Islands, and Nansha Islands are included on this map and designated as ROC territory. The MOI submitted to the Executive Yuan for reference the Comparison Table on the Old and New Names of the South China Sea Islands, as well as the Location Map of the South China Sea Islands.

2.5 The South China Sea Islands and their surrounding waters were first administered by the early Chinese.

The volume Border Defense in the Collection of the Most Important Military Techniques (1557) by the scholar Zeng Gongliang of the Northern Song dynasty described patrols of the South China Sea Islands by early Chinese naval officers.

Similar descriptions can be found in the Principles of Maritime Defense (1838) by the Qing dynasty scholar Yan Ruyu and the Records of Quanzhou (1763), written during the reign of Emperor Qianlong. These official records show that waters around the South China Sea Islands were patrolled by military officers since before the Qing dynasty, indicating that ancient China had already exercised jurisdiction over them.

As mentioned above, Japanese citizen Yoshiji Nishizawa attempted to illegally occupy Tungsha Island in 1909. The Qing court lodged a protest with Japan and negotiated for its return. Admiral Li Zhun from Guangdong was dispatched to patrol the Shisha Islands, in a demonstration of effective jurisdiction over the region.

In the early years of the ROC, the government, following the practice of the ancient Chinese dynasties, placed the Tungsha and Shisha Islands under the naval zone administered by the coast guard, stationing personnel on and regularly delivering supplies to the islands. When France attempted to occupy nine of the Shisha and Nansha Islands in 1931 and 1933 during its colonization of Annam (present-day Vietnam), the ROC Ministry of Foreign Affairs ordered its embassy in France to issue statements of sovereignty and sent warships to patrol the region.

In 1945 the Allies defeated Japan, ending World War II. The ROC government, with assistance from the Allies, in 1946 resumed sovereignty over and garrisoned the South China Sea Islands that had been seized by Japan. In May 1956, Tomás Cloma, a Philippine national, illegally landed on several of the Nansha Islands, claiming that he had discovered them and enjoyed the rights associated with discovery-occupation. However, these islands had long belonged to the ROC and were not terra nullius. The ROC ambassador to the Philippines immediately issued a statement stressing that the Nansha Islands were ROC territory, and sent a letter of protest to Philippine Vice President and Foreign Secretary Carlos Polestico Garcia. The Philippine government stated that these were individual actions by Cloma and had nothing to do with the Philippine government.

A naval fleet was dispatched to patrol the South China Sea in June 1956 to safeguard ROC sovereignty over the Nansha Islands. In October of the same year, the Ning Yuan naval fleet, while patrolling the Nansha Islands, delivering supplies, and conducting training, intercepted a training boat from the Philippine Maritime Institute at Beizi Reef (N.E. Cay) in the Nansha Islands. Naval personnel boarded the boat for inspection and, in addition to seizing weapons and ammunition, brought its captain—Filemon Cloma (younger brother of Tomás Cloma)—aboard the naval vessel Tai He for interrogation. Captain Cloma signed an affidavit acknowledging illegal entry into ROC territorial waters surrounding the Nansha Islands and promising not to enter those waters again. The incident underscores the fact that the ROC had effective jurisdiction over the region.

Consistent and continuous early Chinese jurisdiction over the South China Sea region has been exercised at least since the Ming and Qing dynasties.

Geography

The South China Sea Islands refer to the many islands, cays, reefs, shoals, and sandbars in the South China Sea extending about 1,800 kilometers north to south and more than 900 kilometers east to west. They include four groups, namely—from north to south—the Tungsha Islands, Shisha Islands, Chungsha Islands, and Nansha Islands. The South China Sea Islands refers to the islands, reefs, shoals, and sandbars in the Location Map of the South China Sea Islands issued by the ROC government in 1947.

Monsoons originate in the South China Sea. According to ancient literature and official documents and books dating back more than two thousand years to the Western Han dynasty (206 BCE-9 CE), the government and people of ancient China used seasonal winds to their advantage, relying on the monsoons to transport goods and fish back and forth as well as to conduct economic activities and government patrols in the region. Given their geographical proximity, ancient Chinese people also engaged in traditional activities in the South China Sea Islands and their surrounding waters. Hence, historical facts about the South China Sea, its geography, geology, economic activities, navigation, commerce and trade were recorded in local gazetteers and ancient books from different periods.

 The geographical features of the South China Sea islands are given below.

2.6 Boundaries

Tungsha (Pratas) Islands: Tungsha Island is the only one of this island group that rises above the waterline. It has an area of 1.74 square kilometer. Located at 20°42′ north latitude and 116°43′ east longitude, it lies about 243 nautical miles southwest of Taiwan’s Kaohsiung Harbor and 170 nautical miles southeast of Hong Kong. The group comprises mainly Tungsha Island, Tungsha Atoll, Beiwei (N. Verker) Bank, and Nanwei (S. Verker) Bank, which surround a lagoon about 300 square kilometers in area. The broad northern rim of Tungsha Atoll is above water at low tide.

Shisha (Paracel) Islands: This group is situated between 15°47′ and 17° 5′ north latitude, and 111°12′ and 112°54′ east longitude. It lies about 566 nautical miles from Kaohsiung Harbor, between Vietnam, Hainan Island, and the Zhongsha Islands. Known as Qianli Changsha in ancient times, it consists of 30 islets, shoals, and reefs divided into the Yongle Islands (Crescent Group) and Xuande Islands (Amphitrite Group). The northeast group is the Xuande Islands, which include Yongxing (Woody), Hewu (Lincoln), Shidao (Rocky), South, and North Islands. The southwest group is the Yongle Islands, which comprise Shanhu (Pattle), Ganquan (Robert), Jinyin (Money), Chenhang (Duncan), and Zhongjian (Triton) Islands. Yongxing is the largest of the Shishas, with an area of 2.6 square kilometers prior to recent land reclamation.

Chungsha (Macclesfield Bank) Islands: Previously called the Nansha, the Chungsha Islands lie to the east and slightly to the south of the Shisha Islands, roughly 467 nautical miles from Kaohsiung Harbor (the closest feature being Minzhu Reef, also known as Huangyan Island or Scarborough Reef). They are distributed between 13°57′ and 19°12′ north latitude and 113°43′ and 117°48′ east longitude. Only Minzhu Reef rises above the waterline, while the rest are submerged coral reefs. The Chungsha Islands occupy an important position along major routes for fishing and commercial vessels, with surrounding waters rich in marine resources.

Nansha (Spratly) Islands: Previously known as the Tuansha Islands, this is the southernmost of the ROC’s four South China Sea island groups. It comprises small islets formed by coral reefs, extending from Wan’an (Vanguard) Bank in the west to Haima (Seahorse) Bank in the east, and from Zengmu Shoal in the south to Lile (Reed) Bank in the north. Compared to the other island groups, the Nansha Islands are distributed over the largest expanse of water and have the largest number of islets. In 1947, the MOI announced the names of 97 islands, cays, and reef flats distributed between 3°58′ and 11°55′ north latitude and 109°36′ and 117°50′ east longitude. All are low-lying coral islets. The Zhenghe Reefs (Tizard Bank), comprising seven reefs, is the largest collection of reefs in the Nanshas. The principal island is Taiping (Itu Aba) Island, with an area of 0.51 square kilometer, located 864 nautical miles to the southwest of Kaohsiung Harbor.

2.7 Early Chinese relied on monsoons to conduct economic activities in the South China Sea.

The formation of monsoons in the South China Sea makes these seasonal winds a special geographical feature of the region: Before modern navigation technology was developed, early Chinese relied for over a thousand years on the southwest monsoons that blow each year between spring and fall, as well as the northeast monsoons between fall and spring to travel to and from the South China Sea for trade, exploration, immigration, and fishing. These favorable winds, along with favorable ocean currents, made such travel very convenient.

Early Chinese had long used the monsoons to their advantage, relying on them to conduct economic activities and government patrols in the South China Sea: During the era of the Three Kingdoms (184-280), Xie Cheng, in his book History of the Later Han Dynasty, wrote that people in the Western Han period utilized the monsoons to establish a navigation route between ancient China and Indochina that passed through the Rising Sea (now the South China Sea). Later, Eastern Han dynasty officials (25-220) also took advantage of the monsoons to patrol the South China Sea when Jiaozhi (an ancient name for Vietnam) was governed by ancient China.

Since the 19th century, foreign navigators have recorded that the early Chinese, traveling with the monsoon winds, had long engaged in development and economic activities in the South China Sea Islands: On page 124 of Volume One of the China Sea Pilot published by the British in 1923, and in Volume Four of the Asiatic Pilot published by the Hydrographic Office of the US Department of the Navy in 1925, descriptions can be found of fishermen from Hainan who had lived on the Zhenghe Reefs for a long time and made their living by collecting sea cucumbers and turtle shells. These books also include accounts of fishermen bartering sea cucumbers and other items for rice and other basic necessities transported to the Zhenghe Reefs each year by flatboats sailing from Hainan in December or January and beginning their homeward journey when the southwest monsoons began to blow.

International law

The South China Sea Islands and their surrounding waters are an inherent part of ROC territory and waters. Modern international law, including the principle of intertemporal law, provides ample support for ROC sovereignty, which also meets the standards of the traditional East Asian legal order and international law as it gradually evolved in Europe in the 16th and 17th centuries prior to the maturation of modern international law. The reasons are as follows:

2.8 The South China Sea Islands are an inherent part of ROC territory. They were not terra nullius, and other countries may not lay claim to them by virtue of discovery-occupation.

The South China Sea Islands were first discovered, named, and used by the ancient Chinese, and administered by successive dynasties. They were not terra nullius. Other countries may not claim the islands and annex them by virtue of discovery-occupation.

Historical records show that the islands were first discovered and occupied by the ancient Chinese, who proceeded to develop and manage them. They were incorporated into ancient Chinese territory and placed under continuous and consistent jurisdiction by successive dynastic governments through administrative measures taken in different eras, including patrol of maritime territory, and naming, surveying, and mapping of the islands. The South China Sea islands were categorically not terra nullius.

In the well-known Palmas Island arbitration of 1928, the arbitrator stated that “a juridical fact must be appreciated in the light of the law contemporary with it.” Under intertemporal law, entitlement should be upheld in accordance with contemporaneous law, and not of the law in force at the time when a dispute in regard to it arises. This principle should also apply when determining whether such an entitlement still exists, taking into account how the law has changed over time. The ROC management of the South China Sea Islands not only meets the principle of discovery-occupation in international law, but moreover, the ROC government’s high-level and effective exercise of jurisdiction over the islands after the end of World War II in 1945 meets the important criterion of intertemporal law that it has maintained continuous and effective control over its sovereign territory.

Under modern international law, developed in 18th-century Europe, any country that discovers and occupies terra nullius can claim sovereignty over the territory without having to meet any other requirements. For example, when the Qing court published the Unified World Map of the Great Qing Dynasty in 1767 during the reign of the Emperor Qianlong, it incorporated into early Chinese territory Wanli Changsha and Wanli Shitang, which are ancient names for the Shisha and Nansha Islands, respectively. This was in conformity with international law established in Europe at the time. Moreover, no other country claimed sovereignty over the South China Sea Islands around 1767.

The Guano Islands Act of 1856, for example, allows US citizens to peacefully conduct low-level development on any island that is beyond US borders and not under the jurisdiction of any other country, which the US government, once informed, will then consider to appertain to the United States and over which it will have jurisdiction. This means that when the government of a country is informed and understands that its people are utilizing a neighboring island, it may extend its jurisdiction over said island even if it has not been officially incorporated into its territory. Furthermore, according to ancient literature and official records, the South China Sea Islands were long ago discovered, named, and used by the ancient Chinese, and incorporated into the nation’s naval defense and maps by the government.

2.9 During World War II, France and Japan illegally occupied the Nansha and Shisha Islands for brief periods of time, but this does not detract from the ROC’s rights in the South China Sea as accorded by international law. When the ROC reclaimed the islands soon after the war, no objections were raised in the international community.

During World War II, when the ROC was engaged in an all-out war of resistance against Japan and safeguarding world peace as an Allied nation, France and Japan occupied parts of the Nansha and Shisha Islands. The ROC lodged protests via diplomatic channels and declared its refusal to recognize their claims. These illegal occupations did not last long, and both countries later relinquished sovereign claims to the islands. This does not undermine the ROC’s rights over the South China Sea Islands as accorded by international law.

After the end of World War II, the ROC government, with support from other Allied nations, stationed forces on the South China Sea Islands in 1946. Its exercise of jurisdiction through continued administration, management, and development of the islands strengthened its sovereign claim under international law. An absence of protest from countries in the region—the Philippines, Vietnam, Malaysia, and Brunei—and their tacit recognition of ROC sovereignty over the islands further bolstered the ROC’s claim.

From 1938 to 1939, the Japanese armed forces occupied the Tungsha Islands, Shisha Islands, and Nansha Islands. On March 30, 1939, Japan integrated the Nansha Islands as Shinnan Gunto into Takao Prefecture (now Kaohsiung City and Pingtung County) through Announcement No. 122 of the Taiwan Governor-General’s Office. After Japan surrendered to the Allies on August 15, 1945, ROC officials responsible for reclaiming the South China Sea Islands embarked from Hainan on the vessels Taiping, Zhongye, Yongxing, and Zhongjian in November 1946, to recover the Shisha and Nansha Islands. ROC forces were stationed on Yongxing Island in the Shishas and Taiping Island in the Nanshas. The Ministry of the Interior re-erected national markers on the major islands, drew up detailed maps of them, renamed them, and published the Location Map of the South China Sea Islands. Recovery of the South China Sea Islands was completed on February 4, 1947.

2.10 The Treaty of Peace between the ROC and Japan confirms the restoration of the Shisha Islands and Nansha Islands to the ROC.

During the War of Resistance Against Japan, Japan seized numerous ROC territories, including in 1939 the South China Sea Islands. Japan annexed the Shisha and Nansha Islands, renamed the Nansha Islands Shinnan Gunto and integrated them into Takao Prefecture. After Japan’s defeat in the war, the territories Japan seized from the ROC and illegally occupied were to be returned to the ROC. Relevant international documents include the Cairo Declaration, Potsdam Proclamation, Japanese Instrument of Surrender, San Francisco Peace Treaty, and Treaty of Peace between the ROC and Japan, which are interconnected documents effective in accordance with international law:

(1) Cairo Declaration: On December 1, 1943, the ROC, the US, and the UK jointly released the Cairo Declaration, which clearly stated the Allies’ mission in holding the Cairo Conference was to ensure that “all the territories Japan has stolen from the Chinese such as Manchuria, Formosa, and The Pescadores shall be restored to the Republic of China. Japan will also be expelled from all other territories which she has taken by violence and greed.”

(2) Potsdam Proclamation: On July 26, 1945, Allies including the ROC, the US, the UK, and the USSR jointly issued the Potsdam Proclamation, in which Article 8 clearly stipulated that “the terms of the Cairo Declaration shall be carried out.”

(3) Japanese Instrument of Surrender: On September 2, 1945, the Japanese Emperor formally surrendered unconditionally to the Allies and signed the Japanese Instrument of Surrender, which clearly stated Japan’s acceptance of the Potsdam Proclamation. In fact, the Japanese Instrument of Surrender accepts the Potsdam Proclamation, which in turn stipulates that the terms of the Cairo Declaration shall be carried out. Clearly, the Japanese Instrument of Surrender has combined these three documents together. They are all included in Volume 3 of Treaties and Other International Agreements of the United States of America 1776-1949, published by the US Department of State in 1969, and in Volume 1 of Series 26 in a collection of treaties published by the Japanese Ministry of Foreign Affairs in 1948. The Japanese Instrument of Surrender is also included in volume 59 of The United States Statutes at Large published in 1946, as well as Volume 139 of The United Nations Treaty Series issued in 1952. In other words, relevant countries, and the United Nations, view these documents as treaties, and so they are, of course, legally binding for Japan, the US, and the ROC.

(4) San Francisco Peace Treaty and Treaty of Peace between the ROC and Japan: After the end of World War II, the ROC government recovered the Tungsha, Shisha, and Nansha Islands in 1946 according to the Cairo Declaration, Potsdam Proclamation, and Japanese Instrument of Surrender. In addition to erecting stone markers and stationing military personnel on the main islands, the government issued revised names of the South China Sea Islands, as well as the Location Map of the South China Sea Islands in December 1947. No objections were raised by other countries at that time. Paragraph 6 of Article 2 of the San Francisco Peace Treaty, which took effect on April 28, 1952, stipulated that “Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.” Article 2 of the Treaty of Peace between the ROC and Japan, which was signed on the same day and took effect on August 5 of the same year, stated the same. Moreover, the Exchange of Notes No. 1 of the Treaty of Peace between the ROC and Japan stipulated that “the terms of the present Treaty shall, in respect of the Republic of China, be applicable to all the territories which are now, or which may hereafter be, under the control of its Government.” Thus, that sovereignty over the Nansha and Shisha Islands returned to the ROC is irrefutable under international law.

2.11 Actions taken by international organizations confirm ROC control over South China Sea islands and reefs.

On April 29, 1930, at the Far Eastern Meteorological Conference held in Hong Kong, the Philippine representative for the Manila Observatory suggested that the ROC government set up meteorological observatories in the Shisha and Chungsha Islands to enhance navigation safety, acknowledging the observatory set up by the ROC government in the Tongsha Islands as the most important observatory in the South China Seas. This proposal was put forth for resolution and none of the delegations objected. This shows that countries participating in that conference, including the UK, Japan, and the Philippines, as well as the organization itself, all recognized ROC authority over the South China Sea Islands.

On October 27, 1955, at the first conference of the International Civil Aviation Organization on aviation in the Asia-Pacific region in Manila, the 16 member nations present also passed a resolution requesting that the ROC would provide weather reports on the Tungsha, Shisha, and Nansha Islands, and added high-altitude weather observations four times a day from the Nansha Islands. This demonstrates that the organization confirmed ROC sovereignty over the South China Sea Islands.

2.12 Foreign governments have recognized ROC sovereignty over islands and reefs in the South China Sea.

On September 7, 1955, Donald E. Webster, First Secretary of the US Embassy to the ROC, queried the Ministry of Foreign Affairs regarding which islands in the South China Sea belong to the ROC. The ROC Ministry of Foreign Affairs responded explicitly to the US that all of the South China Sea Islands mentioned above are ROC territory.

In August 1956, First Secretary Webster informed the ROC Ministry of Foreign Affairs that a US Air Force crew planned to travel on US naval vessels to survey the Chungsha Islands and five of the Spratly Islands—Minzhu Reef, Shuangzi (N. Danger) Reefs, Jinghong (Sin Cowe) Island, Hongxiu (Namyit) Island, and Nanwei Island—and requested that the ROC government expedite the trip.

On December 21, 1960, the US Military Assistance Advisory Group (MAAG) requested permission from the ROC Ministry of National Defense to dispatch personnel to survey Jinghong Island, Nanwei Island and Shuangzi Reefs. These actions confirm that the US was aware of ROC sovereignty over the Spratly Islands.

2.13 Filipinos who illegally entered ROC South China Sea island territory were expelled, demonstrating the ROC’s competent jurisdiction.

On October 1, 1956, when the ROC naval vessels Taihe and Yongshun were patrolling the South China Sea Islands, personnel boarded and inspected a Philippine ship at Beizi Reef. Captain Filemon Cloma, Chief Engineer Benito Danseco, and other crew members were questioned aboard the Taihe. In addition to turning over carbines and ammunition, Captain Cloma signed an affidavit acknowledging illegal entry into ROC territory and promising no repetition of such action. This incident underscores the fact that the ROC had effective jurisdiction over the region.

2.14 The ROC has demonstrated maintenance of sovereignty through the lodging of protests over incursions by neighboring countries.

As mentioned above, the French colonial government in Annam attempted to occupy nine islands in the Shisha and Nansha groups in 1931 and 1933, respectively. In each case the ROC government reiterated its sovereignty. Following the defeat of Japan in WWII, the ROC government officially restored sovereignty over the South China Sea Islands, confirming it with the publication of the Location Map of the South China Sea Islands in 1947.

The ROC recovered the South China Sea Islands in 1946. When Vietnam landed personnel in the Nansha Islands in August 1956, the Ministry of Foreign Affairs delivered a protest through its minister stationed in Vietnam.

In 1963, a navy patrol of the Nanshas found that Vietnam had landed in the islands and illegally erected a stone marker. The navy demolished the marker and re-erected the ROC marker. MOFA again registered a protest with Vietnam. The government’s actions to safeguard ROC sovereignty have been unceasing.

Since 1970, in addition to continuing to dispatch naval patrols to the Nansha Islands to defend its sovereignty, the ROC has continuously and consistently used related channels to protest the periodic incursions into the Nanshas by the Philippines, Vietnam and Malaysia, expressing its solemn position to the international community. MOFA statements have reiterated that it is indisputable that the Nansha Islands and their surrounding waters are an inherent part of ROC territory and waters.

3. The ROC South China Sea Peace Initiative

South China Sea Peace Initiative and Roadmap

To provide means for resolving disputes effectively, the ROC government proposed the South China Sea Peace Initiative May 26, 2015, urging parties concerned to exercise self-restraint and maintain the status quo of peace and stability in the South China Sea. While consistently upholding the principles of safeguarding sovereignty, shelving disputes, pursuing peace and reciprocity, and promoting joint development, the ROC government is willing to work with other parties to develop resources in the South China Sea and prepared to actively participate in related dialogue and cooperation mechanisms to settle disputes through peaceful means, maintain regional peace and promote regional development.

President Ma Ying-jeou led a delegation to Taiping Island January 28, 2016, inspecting the wharf, airstrip, lighthouse, farm, hospital, post office, freshwater wells, Guanyin Temple, and solar power facilities. He unveiled the South China Sea Peace Initiative Roadmap to show the way forward to peace in the region, taking Taiping Island as one of the starting points for implementation of the peace initiative, transforming it into an island for peace and rescue operations, as well as an ecologically friendly and low-carbon island.

President Ma stressed that the roadmap will make Taiping Island one of the first ports of call for implementation of the South China Sea Peace Initiative, and put forth a viable path of shelving disputes, integrated planning, and zonal development. The roadmap’s three phases of progress include: in the short term, jointly shelving disputes and launching multilateral dialogue and consultations; integrated planning in the midterm; and over the long term the establishment of a mechanism for zonal development through bilateral or multilateral cooperation leading to fair and reciprocal win-win results.

Tangible results of the South China Sea Peace Initiative

After two years of consultations, the ROC and the Philippines signed the Agreement Concerning the Facilitation of Cooperation on Law Enforcement in Fisheries Matters November 5, 2015, in Taipei, ROC. The accord establishes three principles for law enforcement: no use of force of arms, one-hour notification prior to enforcement actions, and release of detained crews and boats within three days. It has greatly reduced the number of bilateral fishery disputes, making it the most outstanding outcome of the South China Sea Peace Initiative so far.

The agreement is significant in several ways: (1) For Taiwan and the Philippines to establish an effective settlement mechanism concerning fishery disputes in their overlapping exclusive economic zones (EEZ) in accordance with international law, including the United Nations Charter and the UN Convention on the Law of the Sea, is of great political significance; (2) the contents of the accord are in line with the principle of provisional arrangements under UNCLOS, as well as common international practice, giving it substantial import under international law; and (3) the technical group established under the agreement gives the two sides an institutionalized negotiation mechanism.

Making Taiping Island into a peaceful and low-carbon island, as well as an ecological reserve, in the spirit of the South China Sea Peace Initiative

ROC government management over nearly 70 years is turning Taiping Island into an island for peace and rescue operations, as well as an ecologically friendly and low-carbon island, demonstrating the government’s investment of resources in the nation’s southern territories, effective administration, concern for human rights, attention to environmental protection, and efforts to preserve peace and stability in theregion, in the spirit of the South China Sea Peace Initiative. The following developments are especially noteworthy:

In 2000, the Coast Guard Administration took over defense of Taiping Island, showing the world that the island has been demilitarized and is dedicated to peaceful purposes.

The medical services available on Taiping Island have been gradually expanded. Three doctors (including one dentist) and three nurses now staff the 10-bed Nansha Hospital, with a telemedicine service with Taiwan proper allowing for immediate consultations at any time, providing medical care to personnel stationed on the island as well as fishermen from different countries operating in neighboring waters. Over the past 20 years, more than 20 fishermen from the ROC, Myanmar, the Philippines, and mainland China have been rescued and treated.

The first phase of Taiping Island’s photovoltaic system, solar power water heating, and energy-saving facilities went on line in 2011. Paired with storage batteries in 2014, the photovoltaic system can now provide up to 170,000 kWh of power annually (nearly one-fifth of the islands needs), reducing carbon emissions by 107 metric tons. Taiping is thus well on its way to becoming a low-carbon island.

Taiping is an island capable of sustaining human habitation and an economic life of its own

On his inspection tour of Taiping Island, President Ma pointed out that it is clearly an island, not a rock, with respect to the question raised in the arbitration brought by the Philippines at the Permanent Court of Arbitration in The Hague concerning competing claims with mainland China vis-à-vis the South China Sea. Taiping has its own sources of natural, abundant, potable freshwater, as well as naturally formed and fertile soil, while fruits, vegetables, chickens, and goats are raised there, providing ample evidence that it is fit for human habitation and can support an economic life of its own, meeting all the qualifications of an island.

As recounted above, in 1879 and 1884, the Royal Navy’s The China Sea Directory, in Volumes 2 and 3, records the presence on Taiping of wells dug by early inhabitants, with water “better than elsewhere”; forest cover; shrubs; and wild coconut, plantain, and papaya. When Japan occupied Taiping Island in 1935, one name they used for it was Papaya Island, due to its many papaya trees. These records also demonstrate that the island is capable of sustaining human habitation and an economic life of its own. Moreover, in September 1980, eight civilian researchers from the Taiwan Provincial Fisheries Research Institute went to Taiping to conduct related research, officially registering their domiciles there September 25, and holding the first Townhall Meeting for citizens in the Nansha Region November 16. And in 2016, three civilian nurses employed at the Nansha Hospital registered their domiciles on Taiping.

On December 12, 2015, Minister of the Interior Chen Wei-zen led a group of related government officials to Taiping Island to preside over a ceremony marking the opening of the island’s renovated wharf and airstrip, as well as the new lighthouse. On January 23, 2016, Minister of Foreign Affairs David Y. L. Lin visited Taiping with a survey team of water, soil, vegetation, and legal experts. Upon its return to Taiwan, the team announced the following findings:

(1) Taiping is the largest of the naturally formed islands in the Nanshas, with abundant natural resources.

(2) Geologically, the Holocene layer of coral rock under the topsoil, together with the lower strata of fissure-ridden Pleistocene coral, has resulted in excellent underground water storage through rainwater percolation, giving Taiping, alone among the Nanshas, abundant groundwater and potable freshwater. There are four operational groundwater wells on the island, averaging 92.3 percent freshwater. The best quality water (in well no. 5) is 99.1 percent freshwater, with total dissolved solids of just 427 mg/L, comparable to Evian (whose website reports total dissolved solids of 330 mg/L). The four wells produce 65 metric tons of water daily for drinking water, cooking, and other everyday needs.

(3) Plant cover on the island has over long periods of time produced natural, fertile soil suitable for agriculture, with an abundance of natural vegetation. There are hundreds of tropical trees growing to heights of 10 to 20 meters, including the lantern tree (Hernandia nymphaeifolia), Indian almond (Terminalia catappa), and fish poison tree (Barringtonia asiatica). Coconut, papaya, and plantain grow wild.

(4) Personnel stationed on the island have long utilized the natural environment, cultivating a wide variety of vegetables, such as pumpkin, sweet potato, calabash, bitter melon, loofah gourd, okra, cabbage, water spinach, and sweet potato leaves, as well as raising guard dogs, chickens, and goats, and drawing on the plentiful fishery resources in surrounding waters to provide for daily needs.

(5) For these reasons, whether from the perspective of law, economics, or geography, Taiping Island meets the requirements for an island as stipulated in Article 121 of UNCLOS, and can sustain human habitation and economic life of its own.

4. Conclusion The South China Sea Islands and their surrounding waters were first discovered, named, and used by the early Chinese, as well as administered by successive governments, and have been considered inherent national territory and waters since ancient times, as is attested in numerous historical records, local gazetteers, and maps. Although Japan occupied the islands during World War II, the ROC moved swiftly to recover them after the war, as can be seen by the Location Map of the South China Sea Islands, issued by the Ministry of the Interior in 1947.

Article 4 of the ROC Constitution states that “the territory of the Republic of China according to its existing national boundaries shall not be altered except by resolution of the National Assembly.” The ROC government, responsible for the defense of national territory, steadfastly maintains that the South China Sea Islands are an inherent part of ROC territory.

The ROC government, upholding the basic principles of safeguarding sovereignty, shelving disputes, pursuing peace and reciprocity, and promoting joint development, has issued the South China Sea Peace Initiative and its Roadmap. Based on consultations conducted on an equal footing, the ROC is willing to work with other countries concerned to jointly ensure peace and stability in the South China Sea, as well as conserve and develop resources in the region, making it, like the East China Sea, a sea of peace and cooperation.

Nguồn: South China Sea Research